CÁC DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT CỦA HÀ NỘI

05/07/2017 Cỡ chữ: A-   A+  In bài viết

LỜI NÓI ĐẦU

Nằm ở vị trí trung tâm của đồng bằng sông Hồng, với thế đất "rồng cuộn, hổ ngồi", Thăng Long - Hà Nội được xem là vùng đất địa linh - nhân kiệt và là trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục của cả nước. Trải qua hơn 1000 năm hình thành và phát triển, Hà Nội đã lưu giữ một kho tàng di sản văn hóa vô cùng phong phú. Kho tàng di sản quý báu này, trong đó có các di tích quốc gia đặc biệt, được nhận định là một trong những nguồn lực để phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội.

Đưa ra khái niệm về di tích quốc gia đặc biệt, điều 29 trong luật số 32/2009/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18/6/2009, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010, đã nêu: "Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia, bao gồm:

a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc;

b) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam ;

c) Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới;

d) Cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới".

Di tích quốc gia đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng trên cơ sở lựa chọn các di tích quan trọng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích quốc gia. Hiện nay, qua 5 đợt xếp hạng, cả nước có tổng số 62 di tích quốc gia đặc biệt. Trong đó, Hà Nội sở hữu 12 di tích quốc gia đặc biệt [*]:

Theo Quyết định số 1272/QĐ-TTg ngày 12/08/2009

 

1. Di tích lịch sử và khảo cổ Khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội (quận Ba Đình).

2. Di tích lịch sử Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch (quận Ba Đình).

Theo Quyết định số 548/QĐ-TTg ngày 10/05/2012

3. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Văn Miếu - Quốc Tử Giám (quận Đống Đa).

Theo Quyết định số 1419/QĐ-TTg gày 27/9/2012

4. Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ Cổ Loa (huyện Đông Anh).

Theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013

5. Di tích lịch sử Đền Hai Bà Trưng (huyện Mê Linh).

6. Di tích lịch sử Đên Hát Môn (huyện Phúc Thọ).

7. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Đền Phù Đổng (huyện Gia Lâm).

8. Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Hồ Hoàn Kiếm và Đền Ngọc Sơn (quận Hoàn Kiếm).

9. Di tích kiến trúc nghệ thuật Đình Tây Đằng (huyện Ba Vì).

Theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014

10. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách (huyện Quốc Oai).

11. Di tích kiến trúc nghệ thuật Đền Sóc (huyện Sóc Sơn).

12. Di tích kiến trúc nghệ thuật Chùa Tây Phương (huyện Thạch Thất).

Nhằm vinh danh các giá trị to lớn của các di tích quốc gia đặc biệt trên mảnh đất Thủ đô, Thư viện Hà Nội biên soạn thư mục chuyên đề: "Các di tích quốc gia đặc biệt của Hà Nội". Thư mục gồm các nội dung:

1. Tài liệu chỉ đạo về bảo tồn di tích.

2. Các di tích quốc gia đặc biệt tại Hà Nội.

3. Một số giải pháp và kinh nghiệm bảo tồn di tích.

Thư viện Hà Nội hy vọng thông qua những thông tin trong thư mục, bạn đọc càng thêm hiểu, thêm yêu các giá trị văn hóa, lịch sử quý báu của các di tích quốc gia đặc biệt nói riêng và di sản văn hóa nói chung. Chúng tôi rất mong nhận được sự quan tâm và đóng góp tích cực của bạn đọc để các thư mục ngày càng hoàn thiện hơn.

THƯ VIỆN HÀ NỘI



[*] Thứ tự các di tích được xếp theo thời gian ban hành quyết định công nhận.

 

MỤC LỤC

 

I. TÀI LIỆU CHỈ ĐẠO VỀ BẢO TỒN DI TÍCH.. 1

II. CÁC DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT CỦA HÀ NỘI. 5

2.1. Di tích lịch sử và khảo cổ Khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội 5

2.2. Di tích lịch sử Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. 13

2.3. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Văn Miếu - Quốc Tử Giám.. 20

2.4. Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ Cổ Loa. 28

2.5. Di tích lịch sử Đền Hai Bà Trưng. 35

2.6. Di tích lịch sử Đền Hát Môn. 40

2.7. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Đền Phù Đổng. 44

2.8. Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Hồ Hoàn Kiếm và Đền Ngọc Sơn. 53

2.9. Di tích kiến trúc nghệ thuật Đình Tây Đằng. 59

2.10. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách. 63

2.11. Di tích kiến trúc nghệ thuật Đền Sóc. 69

2.12. Di tích kiến trúc nghệ thuật Chùa Tây Phương. 75

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KINH NGHIỆM BẢO TỒN DI TÍCH.. 81

BẢNG TRA TÊN TÀI LIỆU 88

 

KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Thư viện Quốc gia : TVQG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm : VNCHN

Viện Thông tin Khoa học xã hội : VTTKHXH

 


I. TÀI LIỆU CHỈ ĐẠO VỀ BẢO TỒN DI TÍCH

1. Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 05/2002/CT-TTg ngày 18/2/2002 về tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ cổ vật trong di tích và ngăn chặn đào bới, trục vớt trái phép di chỉ khảo cổ học // Công báo, 2002. - Số 2, tháng 3, tr.819-821.

 

2. Công ước về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể / Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc // Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hiệp quốc (UNESCO), họp phiên thứ 32 tại Paris từ ngày 29/9 đến 17/10/2003 đã thông qua Công ước này vào ngày 17/10/2003.

http://bvhttdl.gov.vn/vn/vb-qly-nn/2/720/index.html

 

3. Công ước về việc bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới / Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) // Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Công ước được thông qua tại kỳ họp thứ 17 của Đại hội đồng UNESCO tại Paris ngày 23/11/1972.

http://www.bvhttdl.gov.vn/vn/vb-qly-nn/5/2868/index.html

 

4. Công văn 6880/UBND-VX // Cổng giao tiếp điện tử Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, 2014

Công văn 6880/UBND-VX ngày 10/9/2014 của UBND Thành phố Hà Nội về việc di dời hiện vật không phù hợp ra ngoài khuôn viên di tích, cơ quan đơn vị. Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã chịu trách nhiệm chỉ đạo thực hiện việc này trước Chủ tịch UBND thành phố, báo cáo kết quả thực hiện về UBND thành phố trước ngày 31/12/2014.

http://vanban.hanoi.gov.vn/vanbankhac-2009-2014/-/hn/iuuXCrbdSjj5/4401/161570/cong-van-6880ubnd-vx-ngay-1092014-cua-ubnd-thanh-pho-ha-noi.html

 

5. Luật di sản văn hoá. - H.: Chính trị quốc gia, 2001. - 41tr. ; 19cm

Luật số 28/2001/QH10 được Quốc hội khoá 10 thông qua ngày 29/06/2001.

VV63793 63794

 

6. Luật di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009. - H.: Văn hóa thông tin, 2009. - 95tr. ; 19cm

Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật Di sản văn hóa năm 2009; luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi bổ sung năm 2009 là văn bản hợp nhất giữa luật Di sản văn hóa năm 2001 và 2009.

VV71153 71154

 

7. Luật di sản văn hóa năm 2001 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và văn bản hướng dẫn thi hành. - H.: Chính trị Quốc gia, 2011. - 135tr. ; 19cm

Trình bày toàn văn luật di sản văn hóa, luật sửa đổi, bổ sung năm 2009 gồm 74 điều với các phần quy định về bảo vệ phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, văn hóa vật thể, quản lý nhà nước về di sản văn hóa, vấn đề khen thưởng và xử lý vi phạm... cùng các văn bản hướng dẫn thi hành.

VN11.04555 11.04556 (TVQG)

 

8. Luật di sản văn hóa và nghị định hướng dẫn thi hành. - H.: Chính trị Quốc gia, 2002. - 97tr. ; 19cm

Gồm những lệnh và nghị định của Chính phủ về việc công bố luật di sản văn hóa và những quy định chi tiết thi hành luật này.

VN03.01349 03.01348 (TVQG)

 

9. Luật di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành. - H.: Chính trị Quốc gia, 2003. - 147tr. ; 19cm

Gồm những lệnh, nghị định, quyết định, chỉ thị về việc công bố luật di sản văn hóa và những quy định chi tiết thi hành luật này.

VN03.09441 03.09442 (TVQG)

 

10. Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hoá / Quốc hội khoá XII // Cổng thông tin điện tử nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XII ngày 18/6/2009 đã thông qua Luật số 32/2009/QH12 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá.

http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&_page=1&mode=detail&document_id=91024

 

11. Nghị định của Chính phủ số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hoá // Công báo, 2002. - Số 61, tháng 12, tr.4045-4066.

 

12. Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hoá và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá // Báo mạng, 2010. - 21 tháng 9

Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010.

http://thuvienphapluat.vn/archieve/Nghi-dinh-98-2010-NDCP-huongdan-Luat-di-san-van-hoa-vb111991.aspx

 

13. Nghị quyết 16/2013/NQ-HĐND // Cổng giao tiếp điện tử Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. - 2013

Nghị quyết số 16/2013/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội về chính sách khuyến khích đầu tư, huy động đóng góp tự nguyên của tổ chức cá nhân vào việc xây dựng công trình văn hóa, công viên, vườn hoa, khu vui chơi giải trí và bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn Thủ đô (theo điểm a khoản 3 Điều 11 Luật Thủ đô).

http://vanban.hanoi.gov.vn/vanbanphapquy/-/vb/nsGpxUlb7ddQ/1943763.html;jsessionid=5XNZoEZI1QOJiHJTeWsTzrVk.undefined

 

14. Những quy định pháp luật về bảo vệ di sản văn hoá / Thanh Bình: sưu tầm, tuyển chọn. - H. : Lao động, 2002. - 371tr. ; 21cm

Để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; Căn cứ vào hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 1992, luật này quy định về di sản văn hoá.

VL19798 19799

 

15. Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh. - H. : Sở VHTT Hà Nội, 1986. - 47tr. ; 19cm

HVV997

 

16. Quyết định số 26/2015/QĐ-UBND // Cổng giao tiếp điện tử Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. - H: , 2015

Quyết định số 26/2015/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hà Nội về việc ban hành quy định về quy trình tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản huy động đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân vào việc xây dựng công viên, vườn hoa, khu vui chơi giải trí, công trình văn hóa không có khả năng kinh doanh và bảo tồn, tôn tạo phát huy giá trị văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội. Quyết định được ban hành ngày 14/09/2015 và có hiệu lực kể từ ngày 24/09/2015.

http://vanban.hanoi.gov.vn/vanbanphapquy/-/vb/nsGpxUlb7ddQ/2688677.html;jsessionid=fjXsW+Eq3ljTGypF4cACWtNX.undefined

 

17. Quyết định số 5546/QĐ-UBND // Cổng giao tiếp điện tử Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, 2014

Quyết định số 5546/QĐ-UBND ngày 28/10/2014 của UBND Thành phố Hà Nội, phê duyệt đề cương nhiệm vụ quy hoạch chi tiết khu bảo tồn loài và sinh vật cảnh hồ Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội đến năm 2020.

http://vanban.hanoi.gov.vn/vanbankhac-2009-2014/-/hn/iuuXCrbdSjj5/4401/164046/quyet-inh-so-5546q-ubnd-ngay-28102014-cua-ubnd-thanh-pho-ha-noi.html

 

18. Thông tư Quy định việc kiểm kê di sản văn hoá phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hoá phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia / Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch // Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp.

Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ra ngày 30/06/2010.

http://moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn20bn20php20lut/View_Detail.aspx?ItemID=25591

 

II. CÁC DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT CỦA HÀ NỘI

2.1. Di tích lịch sử và khảo cổ Khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội

19. ANH QUÝ. Bảo tồn khu Hoàng thành Thăng Long: Phải vì lợi ích chung / Anh Quý // Hà Nội mới, 2013. - Số 160, 13 tháng 7, tr.9

Hoàng thành Thăng Long được Uỷ ban Di sản Thế giới (KOMOS) đưa vào danh sách di sản thế giới. Tuy nhiên nếu việc quản lý, khai thác không tốt, di sản sẽ bị rút danh hiệu. Hiện khu C và D của Hoàng thành Thăng Long đang xuống cấp nghiêm trọng mà vẫn chưa được Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội bàn giao cho Thành phố. Bộ, ngành vẫn thờ ơ trước hiện trạng này. Một số ý kiến của các nhà chức năng xung quanh vấn đề trên.

 

20. CHÂU HÀ. Hoàng thành Thăng Long trở thành di sản văn hoá thế giới: món quà vô giá nhân 1000 năm Thăng Long / Châu Hà // Người Hà Nội, 2010. - Số 32, 6 tháng 8, tr.3

Ngày 1-8 tại Brazil, kỳ họp thứ 34 của Ủy ban di sản thế giới đã biểu quyết công nhận khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long của Việt Nam là Di sản văn hoá thế giới. Khu di tích này được phát hiện vào tháng 12-2002, với diện tích khảo cổ hơn 18.000m2. Quần thể di tích gồm nhiều loại hình kiến trúc dưới lòng đất và cổ vật đã chứng minh sự hiện hữu lâu dài của kinh đô Thăng Long gần 1300 năm.

 

21. DIỆP ĐÌNH HOA. Hoàng thành Thăng Long - những nền "văn hoá đá" kế tiếp nhau / Diệp Đình Hoa, Phan Trường Thị, Tạ Hoa Phượng // Khảo cổ học, 2006. - Số 1, tr.35-37

Qua khảo sát vật liệu xây dựng của Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu đã sử dụng các vật liệu xây dựng thời Hồ, Lê, Nguyễn. Tác giả đưa ra nhận định về những nền văn hoá đá trong kiến trúc Việt Nam: thời Lý - Trần đặc trưng vật liệu sa thạch kiểu Chăm pa; thời Lê kỹ thuật gọt đẽo vật liệu kiến trúc từ đá vôi; thời Nguyễn xuất hiện vật liệu granit.

 

22. ĐỖ NGUYỄN. Di vật bị "phơi" có ngày biến mất / Đỗ Nguyễn // An ninh Thủ đô, 2012. - Số 3678, 27 tháng 11, tr.10

Với diện tích khai quật hơn 19.000m2, duy mô khai quật lớn nhất Đông Nam Á, Hoàng thành Thăng Long Hà Nội đang lưu giữ một phức hợp di tích phong phú, phản ánh lịch sử hơn 10 thế kỷ của Thăng Long. Tuy nhiên, công tác bảo vệ còn nhiều bất cập, các phương án bảo quản không hạn chế được tác động của môi trường đối với hiện vật di vật lịch sử tại đây.

 

23. ĐỖ NGUYỄN. Phát hiện dấu tích kiến trúc lạ tại Hoàng Thành / Đỗ Nguyễn // An ninh Thủ đô, 2012. - Số 3704, 27 tháng 12, tr.10

Một dấu tích kiến trúc thời Lý, có thiết kế giống một đường dẫn nước, nhưng rất quy mô được phát hiện tại phía Bắc Đoan Môn, Hoàng thành Thăng Long. Hình thái kiến trúc này lần đầu tiên thấy tại Việt Nam. Đây là phát hiện quan trọng góp phần cung cấp những nhận thức về không gian của các chính điện trong Hoàng thành Thăng Long. Tuy nhiên, các nhà khoa học đang lúng túng tìm phương án bảo tồn lâu dài.

 

24. ĐỖ NGUYỄN ĐỆ. Căn hầm bí mật dưới lòng Hoàng thành Thăng Long / Đỗ Nguyễn Đệ // An ninh Thủ đô, 2012. - Số 3550, 29 tháng 6, tr.10

Hoàng thành Thăng Long chính thức mở cửa đón khách tham quan, lần đầu tiên, hầm ngầm D67 - phòng họp của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương được đông đảo du khách biết đến, ngoài ra còn một căn hầm bí mật khác nữa - hầm chỉ huy tác chiến Bộ Tổng tham mưu. Hầm có kết cấu nửa chìm nửa nổi bằng bê tông nguyên khối với 3 lớp nóc (2 lớp bê tông, giữa là lớp cát) chịu được tên lửa, bom tấn, được xây dựng từ cuối năm 1965 đến giữa năm 1966 thì đưa vào hoạt động với vai trò là đầu não tác chiến, nơi đầu tiên tiếp nhận những thông tin quân sự và đưa ra phương án tác chiến. Hầm được sử dụng đến năm 1975, hiện được Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long lên kế hoạch phục dựng để mở cửa đón khách tham quan vào dịp tháng 12/2012 đúng kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên phủ trên không.

 

25. C.R.W. L'Indochine jugée parun diplomate anglais : Lettres du times / C.R.W : Jmpr. de la presee, 1893. - 40p.

Tác giả đã đi tham quan khắp Đông Dương. Ông có nhiều nhận xét về Hà Nội, có nói đến các di tích của Hà Nội như điện Kính Thiên, Cột Cờ, Văn Miếu.

80 3359(5) (VTTKHXH)

 

26. HÀ ĐÔNG. Quy hoạch Hoàng thành Thăng Long thành Công viên Văn hoá lịch sử: Kỳ vọng một, thận trọng hai / Hà Đông // Hà Nội mới cuối tuần, 2012. - Số 34, 25 tháng 8, tr.1+7

Hai năm sau khi Khu Di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội) trở thành Di sản văn hóa Thế giới, thành phố Hà Nội và Bộ Xây dựng đã công bố đồ án quy hoạch tổng mặt bằng tỷ lệ 1/500 đối với khu di tích đặc biệt này. Tương lai không xa, khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long sẽ trở thành Công viên Văn hoá Lịch sử với không gian trưng bày mở. Tuy nhiên, việc triển khai cần tiến hành thận trọng và có kế hoạch cụ thể, chi tiết hơn.

 

27. LÂM SƠN. Khu di tích Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu: Du khách được "vô tư" vào thăm quan / Lâm Sơn // Văn hóa, 2012. - Số 2100, 2 tháng 1, tr.7

Du khách được tham quan miễn phí hai khu khảo cổ A-B tại 18 Hoàng Diệu vào thứ 3 và thứ 5 hàng tuần. Khu A-B nằm ở phía Tây điện Kính Thiên, có phạm vi xuất lộ 14.291m2 với 45 hố khai quật phát hiện nhiều các loại hình di tích Kiến trúc, hệ thống cống nước, giếng nước tường bao và hàng ngàn di vật, hiện vật thuộc các thời kỳ: thời Đại La, thời Đinh Tiền Lê, thời Lý - Trần - Lê nằm chồng xếp lên nhau. Hiện Khu di tích này đã được viện KHXH Việt Nam bàn giao cho UBND thành phố.

 

28. LÂM SƠN. Phát hiện dấu tích kiến trúc quan trọng ở điện Kính Thiên / Lâm Sơn // Văn hóa, 2011. - Số 2089, 7 tháng 12, tr.7

Báo cáo sơ bộ kết quả thám sát, khai quật khảo cổ học ở khung trung tâm Hoàng thành Thăng Long cho biết điện Kính Thiên thời Lê Sơ không còn nguyên vẹn, đã sửa chữa nhiều lần qua nhiều giai đoạn. Phía dưới nền điện Kính Thiên có dấu tích kiến trúc lớn thời Lê Sơ với 3 móng dầm dài 4,2m; rộng 2,3 m, khu vực thành bậc chạm rồng thời Lê Sơ đã được sửa chữa (thời Lê Trung Hưng các thành bậc đã được nâng cao, thời Nguyễn khu vực thềm bậc được gia cố...). Kiến nghị tu sửa cần có kế hoạch khai quật đến năm 2015 theo cam kết với UNESCO.

 

29. LÊ NGUYÊN VĨNH. Hoàng thành Thăng Long hiện mình / Lê Nguyên Vĩnh // Bà Rịa -Vũng Tàu, 2004. - Số Xuân Giáp Thân, tr.25

Lần đầu tiên, các nhà khảo cổ phát hiện ra một con sông cổ chảy qua kinh thành, hai bên là những lâu đài hình lục giác và tìm thấy hệ thống giếng nước được xây bằng gạch đá, có niên đại khoảng thế kỷ 7, 9 và 19.

 

30. LÊ VĂN LAN. Kỳ đài Thành cổ Hà Nội / Lê Văn Lan // An ninh Thủ đô, 2003. - Số 1205, 12 tháng 4, tr.10

Kỳ đài Thành cổ Hà Nội với hình thể và kiến trúc độc đáo cao 33,4m, thanh cán cờ cắm trên nóc lầu 8m, tính cả chiều cao cán cờ cộng với chiều cao kiến trúc là 41,4m. Thân trụ kỳ đài hình 8 cạnh, tạo nên 8 mặt thân. Phần thân trụ có tiết diện bát giác xây rỗng, đặt trong lòng 54 bậc thang, xoáy trôn ốc, được soi sáng bên trong và trang trí bên ngoài bằng cách trổ 39 hình hoa thị và 6 hình giẻ quạt. Kỳ đài được xây dựng cùng lúc với Thành cổ Hà Nội vào đầu thời Nguyễn (đầu thế kỷ 19) và được xây ngay trên địa điểm có toà Tam Môn của Hoàng thành Thăng Long thời Lê.

 

31. LƯU QUANG PHỐ. Chuyện ít ai biết ở cột cờ Hà Nội / Lưu Quang Phố // Tuần san Thanh niên, 2010. - Số 226, 10 tháng 9, tr.18

Cột cờ Hà Nội được xây dựng dưới triều Nguyễn từ năm 1805 đến 1812. Đây là công trình còn nguyên vẹn và hoành tráng nhất trong quần thể di tích Hoàng thành Thăng Long. Trong thời kì chống Pháp, chống Mỹ cột cờ được dùng để làm đài quan sát. Năm 1945 sau khi cách mạng tháng 8 thành công, lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên được treo lên cột cờ Hà Nội, đến năm 1954, một lần nữa lá quốc kỳ lại tung bay trên đỉnh kì đài lịch sử. Hầu hết khách tham quan đều có nhu cầu lên thăm cột cờ vào những ngày lễ như 1/5, 2/9, 22/12...

 

32. MINH NGỌC. Hầm chỉ huy tác chiến và những sự kiện đặc biệt / Minh Ngọc // Hà Nội mới, 2012. - 12 tháng 12, tr.8

Hầm chỉ huy tác chiến ở Hoàng thành Thăng Long làm bằng bê tông nguyên khối, nửa nổi nửa chìm, có ba lớp (hai lớp bê tông và 1 lớp cát) chịu được bom nguyên tử và tên lửa. Hầm được xây dựng từ năm 1965 đến 1966. Công việc hàng ngày của kíp trực ban tác chiến (Sở chỉ huy Bộ Tổng tham mưu) trong "12 ngày đêm" năm 1972.

 

33. MINH NGỌC. Tiếp tục mở rộng khai quật khảo cổ tại Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội / Minh Ngọc // Hà Nội mới, 2014. - 27 tháng 1, tr.2

Trung tâm bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với viện khảo cổ tiến hành khai quật khu phía nam khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội với diện tích 940m2 để làm rõ hơn những giá trị lịch sử, văn hoá của khu di tích này). Thời gian khai quật từ tháng 2 đến tháng 12 năm 2014.

 

34. Một Hoàng thành Thăng Long cổ xưa đã được tìm thấy // Người Hà Nội, 2003. - Số 46, 14 tháng 11, tr.1+3

Qua công tác khảo cổ cho thấy các lớp đất văn hoá có chứa dấu tích lịch sử văn hoá của Thăng Long-Hà Nội trong khoảng 1300 năm lịch sử. Theo PGS-TS Tống Trung Tín-Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học thì đây là lần đầu tiên một hệ di tích, di vật của một bộ phận trung tâm Hoàng thành Thăng Long và thành Hà Nội xưa đã được phát lộ với một diễn biến văn hoá vật chất liên tục. Bộ Văn hoá thông tin đưa ra 3 phương án bảo tồn, phát huy giá trị của di tích.

 

35. NGUYỄN QUANG NGỌC. Thăng Long thời Lý - Trần - Lê dưới ánh sáng của nguồn tư liệu mới / Nguyễn Quang Ngọc // Khảo cổ học, 2006. - Số 1, tr.28-35

Kết quả cuộc khai quật tại Hoàng Diệu đã là cơ sở để kiểm chứng lại nguồn tư liệu đã có và mở ra khả năng nhìn nhận về Thăng Long thời Lý - Trần - Lê. Trọng tâm bài viết tập trung vào các vấn đề: nhận diện thành Thăng Long qua bản đồ; Thành Thăng Long khu vực trung tâm và những vùng mở rộng.

 

36. NGUYỄN THỪA HỶ. Hoàng thành Thăng Long có hay không? / Nguyễn Thừa Hỷ // Xưa & Nay, 2004. - Số 215, tháng 7, tr.21-23

Trên các tấm bản đồ cổ ngoài luỹ đất Đại La cũng chỉ thấy 2 vòng thành cơ bản: thành Thăng Long (vòng ngoài) và hoàng cung Thăng Long (vòng trong). Sử sách văn bia nói khá nhiều về Thăng Long thành và Cấm thành nhưng hầu như không đả động đến Hoàng thành. Tác giả đưa ra giả thiết Hoàng thành Thăng Long có hay không và chúng ta đang khai quật Hoàng thành Thăng Long hay hoàng cung Thăng Long.

 

37. NHẬT ANH. Phục dựng không gian điện Kính Thiên: Cấp thiết nhưng phải thận trọng / Nhật Anh // Kinh tế & Đô thị, 2012. - Số 186, 25 tháng 8, tr.8

Chương trình nghiên cứu phục dựng không gian điện Kính Thiên mà Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội đầu tư thực hiện. Công tác phục dựng đòi hỏi tính thận trọng: Chính điện ở đâu? Vị trí chính tâm của thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê? Không gian này có biến đổi qua các thời kỳ lịch sử không? Phục dựng như thế nào?

 

38. PHAN HUY LÊ. Vị trí khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu trong cấu trúc Thành Thăng Long - Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử / Phan Huy Lê // Khảo cổ học, 2006. - Số 1, tr.5-28

Nghiên cứu về cấu trúc thành Thăng Long qua các thời kỳ lịch sử, để góp phần xác định vị trí của khu di tích Hoàng thành Thăng Long mới được giới khảo cổ phát hiện ở 18 Hoàng Diệu; Thành Thăng Long thời Lý - Trần - Minh; Thành Thăng Long - Đông Kinh thời Lê sơ - Mạc - Lê Trung Hưng.

 

39. Phục dựng các công trình kiến trúc tại khu khảo cổ Hoàng thành: đâu là thời điểm hợp lý / T.D ghi // Hà Nội mới, 2004. - 23 tháng 8, tr.4

Tại Hội thảo "Đánh giá giá trị và đề xuất phương án bảo tồn, phát huy giá trị khu di tích Hoàng thành Thăng Long", Viện trưởng Viện nghiên cứu kiến trúc - GS. Nguyễn Việt Chân đã có những nhìn nhận vấn đề này dưới góc độ người làm kiến trúc.

 

40. QUẾ TRANG. "Hoàng thành Thăng Long" - tên gọi chính thức đã được xác định / Quế Trang // An ninh Thủ đô, 2006. - Số 1717, 24 tháng 4, tr.1+13

Ý kiến thống nhất về tên gọi của di sản khảo cổ học ở 18 Hoàng Diệu và di tích Thành cổ với tên gọi Hoàng thành Thăng Long của các nhà khoa học.

 

41. QUỲNH VÂN. Công bố quy hoạch trung tâm Hoàng thành Thăng Long: Rộng mở không gian công viên văn hoá lịch sử / Quỳnh Vân, Đỗ Nguyễn // An ninh Thủ đô, 2012. - Số 3579, 2 tháng 8, tr.10

Theo công bố của Bộ Xây dựng, tổng diện tích khu đất quy hoạch là 45.380m2. Trong đó, diện tích nhà trưng bày khảo cổ 13.674m2; khu trưng bày mô phỏng, hầm kính 3.438m2; diện tích cây xanh dự trữ khảo cổ học 21.195m2; diện tích khảo cố tiếp tục nghiên cứu 6.803m2; diện tích khu vực kỹ thuật, phụ trợ 859,3m2; diện tích sân, đường giao thông 6.214m2, hạn chế xây mới các công trình nổi hoặc cao quá 5m. Bốn lối vào khu di tích từ đường Hoàng Diệu, Độc Lập, Hoàng Văn Thụ và Bắc Sơn. Việc quy hoạch là cơ sở pháp lý trong bảo tồn, tôn tạo phát huy giá trị khu di tích Trung tâm Hoành thành Thăng Long nhằm xây dựng Công viên Văn hoá - Lịch sử.

 

42. QUỲNH VÂN. Phát hiện dấu tích góc Tây Bắc của Hoàng thành Thăng Long / Quỳnh Vân // An ninh Thủ đô, 2011. - Số 3397, 19 tháng 12, tr.11

Khai quật nút giao thông Văn Cao - Hồ Tây, các nhà khảo cổ khẳng định đây là một đoạn tường thành phía Tây Bắc của Hoàng thành Thăng Long thời cổ. Di tích địa dày 7,4m, chia thành 17 lớp địa tầng, lớp văn hoá thứ 15 là lớp di chỉ cư trú. Nhiều gạch ngói, đất nung gốm sứ, bao nung, bát đựng men thuộc giai đoạn Lý - Trần. Các di vật có ý nghĩa lớn trong việc nghiên cứu di sản văn hoá Thăng Long.

 

43. QUỲNH VÂN. Phát hiện sân Đan Trì tại Hoàng thành Thăng Long / Quỳnh Vân // An ninh Thủ đô, 2011. - Số 3387, 7 tháng 12, tr.11

Ngày 6/12, Viện Khảo cổ học và Trung tâm bảo tồn di tích Cổ Loa - Thành cổ báo cáo sơ bộ đã phát hiện dấu tích của nền móng gạch móng tường thời Nguyễn và lê sơ cùng nhiều loại hình vật liệu kiến trúc đồ sành, gốm men có niên đại từ thời Lý, Trần, đáng chú ý là sân nền lát gạch vồ thời Lê sơ rộng từ Đoan Môn đến điện Kính Thiên được cho là dấu tích Đan Trì từ thời Lê tới Lê Trung Hưng. Dự kiến tiếp tục mở rộng diện tích khai quật phần nền móng của điện Kính Thiên để hiểu sâu hơn các tầng văn hoá khác ngoài thời Lê.

 

44. THÀNH NAM. Chuẩn bị mặt bằng chỉnh trang khu di tích Thành Cổ / Thành Nam // An ninh Thủ đô, 2010. - Số 2939, 7 tháng 6, tr.2

Về dự án chỉnh trang phía Nam cổng Đoan Môn thuộc Khu di tích Thành cổ.

 

45. THẾ DŨNG. Hoàng thành Thăng Long: hết cảnh dãi nắng dầm mưa / Thế Dũng // Hà Nội mới, 2006. - 18 tháng 1, tr.1+2

Công trình xây dựng mái che tạm và hệ thống tiêu thoát nước mưa, nước mạch ngay để bảo vệ khu di tích Hoàng thành đã hoàn thành. Phát hiện chiếc thuyền thời Hậu Lê.

 

46. THÔNG THANH KHÁNH. Về viên gạch Chăm tìm được tại Hoàng thành Thăng Long / Thông Thanh Khánh // Xưa & Nay, 2004. - Số 222, tháng 10, tr.19+20

Viên gạch Chăm cổ có ghi chữ mẫu tự Sanskrit Brahmi pha tạp mẫu tự Chăm cổ giúp làm sáng tỏ mối quan hệ tín ngưỡng truyền thống tôn giáo của hai dân tộc Việt - Chăm triều đại Lý Trần.

 

47. THU TRANG. Sẽ là di sản Văn hoá thế giới? / Thu Trang // Hà Nội mới, 2004. - 17 tháng 8, tr.7

Những quan điểm của các chuyên gia nước ngoài về khu di tích Hoàng thành.

 

48. THỤC TRINH. Phục dựng hội đèn Quảng Chiếu: đề cao giá trị di sản của Thành cổ / Thục Trinh // Kinh tế & Đô thị, 2011. - Số 249, 23 tháng 12, tr.8

Hội đèn Quảng Chiếu là một lễ hội cung đình có từ thời Lý có ý nghĩa trong việc cầu trường thọ, cầu quốc thái dân an. Lễ hội thường được mở tại Hoàng Thành Thăng Long suốt thời Lý cho tới thời Trần mỗi dịp xuân về. Lễ hội bị mai một theo thời gian nhưng sau khi khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long được công nhận là di sản văn hoá thế giới thì hội đèn Quảng Chiếu được phục dựng lại. Tuy còn rất nhiều khó khăn trong việc phục dựng lễ hội trong việc đảm bảo tính chân thực của lịch sử, nhưng Trung tâm bảo tồn khu vực di tích Cổ Loa - Thành cổ Hà Nội đã thể hiện rõ sự quyết tâm cũng như tâm huyết đối vớt một công trình nhằm tôn vinh giá trị di sản làm sống lại những giá trị văn hoá phi vật thể của di sản Hoàng thành Thăng Long.

 

49. THƯ KỲ. Thành cổ Thăng Long không thua kém những di tích nổi tiếng thế giới / Thư Kỳ // An ninh Thủ đô, 2004. - Số 1230, tr.10

TS.W.Logan, Giáo sư trường ĐH Deakin tại Melburne(Australia), thành viên Ban Bảo tồn Di sản thuộc UNESCO, khẳng định Thành cổ Thăng Long có giá trị không thua kém di tích Mohenijodaro (Pakistan) hoặc một di tích khác ở Bangladesh.

 

50. TRẦN VĂN GIÀU. Ý nghĩa của việc phát lộ khu di tích Hoàng thành Thăng Long / Trần Văn Giàu // Khảo cổ học, 2006. - Số 1, tr.65-67

Khu di tích Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu với diện tích 19.000m2 các nhà khoa học bước đầu xác định niên đại từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 20 giữa các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Nguyễn. Tác giả đưa ra một số ý nghĩa của việc khai quật di tích khảo cổ Thành Thăng Long và phương hướng bảo tồn, gìn giữ và sử dụng di tích quan trọng này.

 

51. VÂN QUẾ. Tìm thấy dấu vết cung Trường Lạc / Vân Quế // An ninh Thủ đô, 2005. - Số 1049, 24 tháng 1, tr.10

Những hiện vật được phát hiện nhằm khẳng định khu di chí thuộc Cấm thành (thời Lê).

 

52. YÊN VÂN. Công bố những nghiên cứu mới về Hoàng thành Thăng Long / Yên Vân // An ninh Thủ đô, 2012. - Số 3414, 7 tháng 1, tr.11

Ngày 6/1/2012, kết quả nghiên cứu mới về kinh thành Thăng Long qua tư liệu khảo cổ học và lịch sử được công bố, trong đó hệ thống kiến trúc cột dương (cột dựng trên các tảng đá), cột âm xung quanh các hàng hiên là phát hiện mới cho thấy thời Đại La, kiến trúc cột âm đã phổ biến, đến thời Lý thì phát triển lên tầm mức mới. Kiến trúc Việt nam thời vương triều Lý và tính liên tục, riêng biệt của kinh thành Thăng Long trong các giai đoạn Lý, Trần, Lê cần được tiếp tục nghiên cứu.

 

2.2. Di tích lịch sử Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

53. BÙI KIM HỒNG. Khu di tích Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch - Những đặc điểm chủ yếu và hướng bảo tồn phát huy giá trị / Bùi Kim Hồng // Văn hóa nghệ thuật, 1999. - Số 8, tr.13-16

 

54. CHÍ TÍN. 217 di tích Bác Hồ trên đất Hà nội / Chí Tín // Hà Nội mới cuối tuần, 2004. - Số 479, tr.3

Thống kê trên đất Hà Nội có 217 địa điểm đã từng ghi dấu những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có 173 địa điểm di tích ở nội thành và 44 địa điểm di tích ở ngoại thành.

 

55. CHU ĐỨC TÍNH. Những di tích của Bác Hồ ở Thủ đô Hà Nội / Chu Đức Tính // Thăng Long - Hà Nội ngàn năm, 2005. - Số 28, tr.16- 18

Thống kê những di tích của Bác Hồ ở Thủ đô theo hình thức quản lý: nhà nước, tập thể, tư nhân (có nói đến thực trạng và số liệu các di tích này trên địa bàn theo quận huyện).

 

56. Cụm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh / Lưu Minh Trị (chủ biên), Đào Đình Bắc, Nguyễn Thị Dơn... // Hà Nội danh thắng và di tích. - H. ; 24cm

T.1. - 2011. - Tr.393-397

Về 3 di tích trong cụm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh: Phủ Chủ tịch, Nhà sàn, Lăng Bác Hồ.

HVL3155

 

57. Di tích lịch sử văn hoá và cách mạng kháng chiến quận Ba Đình / Nguyễn Thị Thắng, Lê Văn Lan, Trần Lâm Bền...; Đặng Văn Tường, Trịnh Thị Hạnh, Nguyễn Thị Dơn: biên soạn. - H. : Khoa học xã hội, 2009. - 281tr.: minh hoạ ; 24cm+1 bản đồ

Cung cấp những thông tin về vị trí, kiến trúc, các di vật, cảnh quan và lịch sử của 50 di tích lịch sử văn hoá, 23 di tích cách mạng kháng chiến của quận Ba Đình, Hà Nội, trong đó có Lăng Bác Hồ.

VV09 12274-76 (TVQG)

 

58. Giữ yên giấc ngủ của Người. - In lần thứ 5. - H. : Quân đội nhân dân, 2005. - 235tr. ; 19cm

Giới thiệu những ngày tháng cuối cùng của Bác; Đơn vị đặc biệt; Nhiệm vụ đặc biệt; Nơi Bác yên nghỉ; Công tác chuẩn bị; Ngày đêm trên quảng trường và đón Bác về lăng.

VV39852 39853

 

59. Giữ yên giấc ngủ của Người : Ký sự. - H. : Quân đội nhân dân, 1990. - 188tr. ; 19cm

Tập ký sự về việc giữ gìn thi hài Bác và xây dựng, bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

VN90.00786 (TVQG)

 

60. HẢI NINH. Những người gìn giữ di tích về Bác / Hải Ninh // Lao động thủ đô cuối tuần, 2010. - 15 tháng 5, Số 58, tr.11

Hơn 40 năm qua kể từ ngày Bác ra đi, khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch đến nay vẫn nguyên trạng với những hiện vật liên quan đến Người. Có được điều đó là nhờ sự tận tình cố gắng của những người làm công tác giữ gìn khu di tích. Với tình yêu và lòng tôn kính với Bác Hồ vĩ đại, tất cả cán bộ công nhân viên vẫn hàng ngày âm thầm cống hiến tâm huyết của mình để giữ gìn di sản cho mai sau.

 

61. Hỏi đáp về danh thắng Hà Nội. - H. : Quân đội nhân dân, 2010. - 191tr. ; 21cm. - (Tủ sách văn hóa)

Giới thiệu những sự kiện về kiến trúc, địa điểm, giá trị lịch sử, nghệ thuật... của một số di tích lịch sử địa danh của Hà Nội (mới): chùa, bảo tàng, hồ, suối, nhà hát, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh...

HVL2777

 

62. HỒNG KHANH. Kể chuyện xây lăng Bác Hồ / Hồng Khanh, Thế Long, Dân Hồng . - H. : Phổ thông, 1976. - 111tr. ; 19cm

VV13489

 

63. Khu di tích Phủ Chủ tịch / Hà Nguyễn // Công trình kiến trúc Hà Nội. - H., 2010. - Tr.66-70.

Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, gọi tắt là Khu di tích Phủ Chủ tịch tại Hà Nội, là nơi sống và làm việc lâu nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh (từ 19/12/1954 đến 02/9/1969). Khu di tích vốn là phần đất phía Tây Bắc của Hoàng thành thuộc kinh thành Thăng Long xưa. Tổng thể khu di tích rộng hơn 14 hecta, trong đó 16 công trình được xếp hạng chiếm diện tích là 22.000m2. Một số công trình có giá trị lớn trong khu di tích: Phủ Chủ tịch, Nhà sàn Hồ Chí Minh, Nhà 54, Phòng họp Bộ Chính trị, Nhà 67, Giàn hoa Phủ Chủ tịch, Nhà bếp A và nhà bếp B, nhà Thủ tướng, Nhà ký sắc lệnh, Đường Xoài, Đường mòn Hồ Chí Minh, Ao cá Bác Hồ.

HVL3399

 

64. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh / Lam Khê, Khánh Minh (sưu tầm, biên soạn) // Danh lam thắng cảnh Hà Nội. - H., 2010. - Tr.55-56

Lăng là nơi lưu giữ thi hài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có mặt chính nhìn ra Quảng trường Ba Đình. Công trình này là kết quả lao động, sáng tạo của các nhà khoa học Nga và Việt Nam. Lăng chính thức được khởi công ngày 2/9/1973 tại vị trí của lễ đài cũ giữa quảng trường Ba Đình, nơi Bác Hồ từng chủ tọa các cuộc mít tinh lớn. Lăng được khánh thành vào ngày 29/8/1975. Toàn bộ khu di tích lăng rộng 14ha, cao 21,6m, gồm 3 lớp. Nhìn tổng thể lăng có hình bông hoa sen cách điệu.

HVL3062

 

65. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh / Hà Nguyễn // Công trình kiến trúc Hà Nội. - H., 2010. - Tr.70-76

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, còn có tên là Lăng Hồ Chủ tịch, Lăng Bác, là nơi lưu giữ thi hài của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lăng được chính thức khởi công ngày 02/9/1973, khánh thành vào ngày 29/8/1975, nằm ngay tại vị trí lễ đài cũ giữa Quảng trường Ba Đình, nơi Bác Hồ đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà và chủ trì các cuộc mít tinh lớn. Lăng có hình vuông với cạnh dài 30m và gồm 3 lớp với tổng chiều cao 21,6m. Trước mặt lăng là Quảng trường Ba Đình với một đường dành cho diễu binh, duyệt binh, một thảm cỏ dài 380m chia thành 240 ô vuông cỏ xanh tươi suốt bốn mùa. Quá trình xây dựng, vật liệu xây dựng lăng và thời gian đón tiếp khách vào tham quan.

HVL3399

 

66. LÊ KIM DUNG. Về một di tích trong khu vực nhà sàn Bác Hồ / Lê Kim Dung // Hà Nội mới cuối tuần, 2006. - Số 20, 20 tháng 5, tr.3

Đó là ngôi nhà Chủ tịch Hồ Chí Minh thường gặp và làm việc với cán bộ, xem phim tư liệu và đặc biệt là nơi Bác thường kí các sắc lệnh của Chủ tịch nước.

 

67. NGHIÊM THỊ HẰNG. Chuyện xây lăng chủ tịch Hồ Chí Minh / Nghiêm Thị Hằng // Nông nghiệp Việt Nam, 2010. - Số đặc biệt, 2 tháng 9, tr.1+6

Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười và nguyên Bộ trưởng Bộ xây dựng Nguyễn Mạnh Kiểm kể chuyện xây lăng chủ tịch Hồ Chí Minh. Lăng được xây dựng từ 1973-1975 mà các vật liệu được nhân dân tuyển chọn khắp đất nước đem về cho công trình.

 

68. NGUYỄN ANH MINH. Ba ngôi nhà Bác ở / Nguyễn Anh Minh // Nguyệt san Nông thôn ngày nay, 2012. - Số xuân, tr.5

"Di tích 54" (trước đây là nơi ở của người thợ điện trong phủ Toàn quyền) là ngôi nhà mà Bác chọn ở và làm việc hơn ba năm. Để đảm bảo sức khoẻ cho Bác, mùa hè 1958, Bộ Chính trị quyết định xây dựng cho Bác một ngôi nhà mới - nhà sàn lịch sử. Ngôi nhà sàn đã được xếp hạng Di tích lịch sử. Từ năm 1970 - 1997 đã có 1.016.494 lượt khách, trong đó khách quốc tế là 190.793 lượt người, có 55 đoàn nguyên thủ và cao cấp của các nước... Sau đợt kiểm tra sức khoẻ định kỳ, do không lên xuống nhà sàn được nữa, Bác chuyển tới ở ngôi nhà H67 và di tích H67 trở thành phòng họp Bộ Chính trị và là nơi Bộ Chính trị làm việc với Bác. Tại ngôi nhà H67, Bác đã qua đời hồi 9 giờ 47 phút ngày 2/9/1969.

 

69. NGUYỄN THÁI ANH. Kể chuyện xây lăng Bác Hồ: Công tác bảo vệ, giữ gìn thi hài Bác vầ một số địa danh Hồ Chí Minh / Nguyễn Thái Anh. - H.: Thời đại, 2012. - 394tr. ; 27cm

Cung cấp nhiều thông tin về những ngày tháng mà toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ra sức làm nên một công trình ý nghĩa - Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các bài viết về quá trình bảo vệ giữ gìn thi hài Bác, một số địa danh Hồ Chí Minh, những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, 365 danh ngôn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

VL45708 45709

 

70. NGUYỄN XUÂN PHƯỚC. Bác nằm trong Lăng, giấc ngủ bình yên... / Nguyễn Xuân Phước // Nông nghiệp Việt Nam, 2002. - Số 162, 2 tháng 9, tr.8

Lăng Bác do các kiến trúc sư Liên Xô thiết kế khởi công xây dựng từ ngày 2/9/1973 đến 29/8/1975 thì hoàn thành.

 

71. Nhà sàn Bác Hồ / Lam Khê, Khánh Minh (sưu tầm, biên soạn) // Danh lam thắng cảnh Hà Nội. - H., 2010. - Tr.58-59

Nhà sàn nằm trong khu vườn rộng sau Phủ Chủ tịch, là ngôi nhà Bác Hồ ở và làm việc từ ngày 17/5/1958 cho tới khi qua đời. Ngôi nhà gồm 2 tầng, trước nhà có ao cá Bác nuôi, sau nhà là vườn quả với hàng trăm loài cây quý do các địa phương đưa về trồng. Ngôi nhà sàn này được Cục Thiết kế cơ bản thuộc Tổng cục Hậu cần thi công theo ý Bác vào mùa hè năm 1958.

HVL3062

 

72. Nhà sàn Bác Hồ - Di sản kiến trúc, di sản văn hóa // Làng nghề Việt, 2015. - Số 37, 10 tháng 9, tr.8

Ngôi nhà sàn cùng Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch là nơi Bác Hồ đã sống và làm việc lâu nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Nó không chỉ mang đậm dấu ấn lịch sử mà còn là một di sản kiến trúc, di sản văn hóa của Việt Nam. Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh - Cục trưởng Cục Thiết kế dân dụng (Bộ Kiến trúc) là người thiết kế ngôi nhà dựa trên sự góp ý của Bác. Ngày 1/5/1958, ngôi nhà đã hoàn thành. Vào dịp sinh nhật năm 1958, Bác Hồ đã chuyển sang ở ngôi nhà này cho tới ngày 17/8/1969.

 

73. NHƯ TRANH. Thu về se sẽ / Như Tranh // Người Hà Nội, 2012. - Số 42, 19 tháng 10, tr.5

Quảng trường Ba Đình có tên gọi bắt nguồn từ địa danh của Thanh Hoá, địa danh này là căn cứ địa do cụ Tống Duy Tân và cụ Đinh Công Tráng lãnh đạo hưởng ứng phong trào Cần Vương của vua Hàm Nghi năm 1885. Trước cách mạng tháng Tám, quảng trường có tên gọi quảng trường Tròn hay quảng trường Puginier, tên một cha cố người Pháp. Bác sĩ Trần Văn Lai - thị trưởng đầu tiên của Hà Nội dưới chính quyền Trần Trọng Kim đã đặt lại tên cho quảng trường. Với 320m chiều dài, 100m chiều rộng đủ cho 20 vạn người mít tinh, cùng 168 ô cỏ xanh bốn mùa, quảng trường Ba Đình là chốn linh thiêng với cả dân tộc Việt Nam

 

74. QUANG HUY. Những người thợ lắp máy trên công trường xây dựng lăng Bác / Quang Huy // Hà Nội mới, 1975. - 1 tháng 9, tr.2

Những khó khăn, thử thách gặp phải, tinh thần vượt khó và tình cảm đối với Bác Hồ của hơn 1.300 cán bộ, công nhân Công ty Lắp máy trong 200 ngày lao động trên công trường xây dựng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trung bình mỗi ngày anh chị em làm việc tới hơn 10 giờ, các bộ phận tự nguyện chia người làm hai ca, ba ca.

 

75. Quyết định của Bộ Chính trị Trung ương Đảng về giữ gìn thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng lăng của Người - Hoàn thành xây dựng Lăng Hồ Chủ tịch // Hà Nội mới, 1975. - 29 tháng 8, tr.1+4

Sau hai năm xây dựng liên tục và khẩn trương (2/9/1973 - 2/9/1975), Lăng Hồ Chủ tịch đã hoàn thành với sự giúp đỡ hết lòng của Đảng Cộng sản, chính phủ và nhân dân Liên Xô. Phương án thiết kế lăng được chọn từ 120 mẫu thiết kế. Toàn bộ lăng có cấu trúc tam cấp theo hình khối liên tục, đỉnh có mấu vát, tựa như ngôi nhà của làng quê Việt. Diện tích đá quý đánh bóng ốp lăng có tới 10.000m2, trong số đó có 9 loại đá rất quý do nhân dân ta tìm được. Đài phụ ở hai bên lăng dài 7m mỗi bên đủ chỗ cho 1000 đại biểu. Trước mặt lăng là đường Hùng Vương rộng 60m, quảng trường lớn với những cỏ vuông có thể xếp khoảng 30 vạn người dự mít tinh. Những đóng góp của nhân dân cả nước trong quá trình xây dựng lăng và quyết định (gồm 4 điều) của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ngày 29/11/1969 về việc giữ gìn thi hài và xây dựng lăng Hồ Chủ tịch.

 

76. Thủ đô Hà nội : Sách hướng dẫn du lịch. - H. : Tổng cục du lịch, 1984. - 144tr.:bản đồ ; 19cm

Giới thiệu khái quát lịch sử, địa lý, thiên nhiên, sự tích lịch sử của con người Hà Nội. Giới thiệu những địa chỉ cần biết khi du lịch: Thành Cổ Loa, các đền đình chùa, lễ hội, đền Quan Thánh... Một số phố cổ của Hà nội và chợ Đồng xuân, lăng Hồ Chủ Tịch. Một số địa chỉ cần biết: viện bảo tàng, nhà hát, thư viện...

HVV576 577 578 579

 

77. TÔ HOÀI. Lăng Bác Hồ : Truyện ký / Tô Hoài. - H. : Nxb.Hà Nội, 1977. - 103tr. ; 19cm

VV13830

 

78. TRẦN VIẾT HOÀN. Nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại khu Phủ Chủ tịch - Hà Nội / Trần Viết Hoàn. - Tái bản có bổ sung. - H : Chính trị quốc gia, 2005. - 62tr. ; 19cm

Những giá trị lịch sử, văn hoá, thẩm mỹ to lớn của khu di tích Phủ Chủ tịch, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở và làm việc 15 năm cuối cuộc đời mình, từ 19/12/1954 đến ngày 2/9/1969. Lần tái bản này, tác giả bổ sung bài "Nhân văn Hồ Chí Minh" (Minh chứng từ nơi ở và làm việc của Người).

HVV4294 4295

 

79. VŨ QUANG DU. Một số di tích về Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 ở Thủ đô Hà Nội / Vũ Quang Du // Thăng Long - Hà nội ngàn năm, 2005. - Số 30, tr.20-23

Giới thiệu một số di tích liên quan đến Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 ở Hà Nội như: chùa Hà, số nhà 101 Trần Hưng Đạo, rạp hát Tố Như (rạp Chuông Vàng), quảng trường Nhà hát Lớn, nhà bà Hai Vẽ, Bắc Bộ Phủ, trại Bảo An Binh, nhà ông Công Ngọc Kha, nhà 48 Hàng Ngang, Quảng trường Ba Đình gắn với các sự kiện lịch sử cụ thể lúc bấy giờ.

 

2.3. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Văn Miếu - Quốc Tử Giám

80. ANH CHI. Bia Tiến sĩ ở Văn Miếu / Anh Chi // Người Hà Nội cuối tuần, 2009. - Số 815, tr.32+33

Văn Miếu được xây dựng vào năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông(1070) để thờ Chu Công và Khổng Tử. Nét đặc biệt ở Văn Miếu không chỉ ở kiến trúc mà còn ở các bia Tiến sĩ. Vào năm Hồng Đức thứ 15 đời vua Lê Thánh Tông (1475), nhà vua đã cho dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu. Qua thời gian và qua nhiều thời đại, hiện nay ở Văn Miếu có 82 bia Tiến sĩ. Những văn bia ấy gắn liền với tên tuổi lỗi lạc như Lương Thế Vinh, Ngô Thì Sĩ, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm... Mỗi tấm bia được đặt trên một con rùa đá với những hoa văn và nét chạm khắc riêng của mỗi thời. Bia Tiến sĩ ở văn Miếu có thể xem là minh chứng xác thực nhất cho truyền thống hiếu học của dân tộc ta.

 

81. Bị khảo lục : Sách chữ Hán chép tay, bản phô tô. - 172tr. ; 24x16

Sách chép 170 bài khảo cứu về các khí cụ, sản vật, diện tích... của Trung Quốc về Việt Nam. Đặc biệt có bài khảo cứu về việc thờ tự trong Văn Miếu; Sự tích đền Bạch Mã, hồ Hoàn Kiếm...

VHV2226 (VNCHN)

 

82. BERNARD, HENRI. Pour la compréhension de I'Indochine et de l'Occident / Henri Bernard. - H. : G.Taupin, 1939. - 198p., planches

Sách gồm 16 bài diễn văn. Bài "Hà Nội thời người Bồ Đào Nha và người Hà Lan sống ở đó" (tr.131-148), tả Thăng Long với cung điện vua, phủ chúa, Văn Miếu... và có sơ đồ Văn Miếu (Tr.40-49).

M12863 (TVQG)

 

83. ĐÀO THỊ THUÝ ANH. Vẻ đẹp tạo hình của Văn Miếu - Quốc Tử Giám / Đào Thị Thuý Anh // Văn hoá nghệ thuật, 2012. - Số 337, tháng 7, tr.99-101

Văn Miếu - Quốc Từ Giám (Hà Nội) là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, là nơi thờ Khổng Tử, các bậc tiên thánh, tiên sư của Nho học. Từ sau 1070, Văn Miếu còn là nơi thờ Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An. Sau thời Lê Sơ, Văn Miếu được mở rộng thêm nơi học hành của các thái tử và trở thành Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám có từ thời Lý, diện mạo được thay đổi qua các triều đại song luôn dựa trên tinh thần nền tảng của tư tưởng nhập thế Nho Giáo. Vẻ đẹp tạo hình của công trình này được tác giả giới thiệu chi tiết trong bài báo.

 

84. ĐINH VĂN TUẤN. Về thời điểm ra đời của Quốc Tử Giám / Đinh Văn Tuấn // Xưa & Nay, 2011. - Tháng 6, tr.33-34

Xem kỹ các sử liệu xưa thì Quốc Tử Giám không thành lập lần đầu tiên năm 1076 vào triều Lý mà bắt đầu xuất hiện vào năm 1070 khi vua Lý Thánh Tông cho tu sửa đền thờ Khổng Tử và mở rộng thành trường học cung đình, nhà nước. Nguyên nhân của sự ngộ nhận về thời điểm ra đời của Văn Miếu - Quốc Tử Giám xuất phát từ bộ sử triều Nguyễn "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" đã hiểu sai và sửa lại sự kiện lịch sử đã được biên soạn trong Bộ sử triều Lê "Đại Việt sử ký toàn thư" một cách chủ quan.

 

85. ĐINH VĂN TUẤN. Đặt lại vấn đề thời điểm ra đời của Văn Miếu / Đinh Văn Tuấn // Xưa & Nay, 2011. - Tháng 5, tr.11-13,31-32

Tên gọi Văn Miếu xuất hiện từ thời nhà Nguyên, Minh và là tên gọi khác của Văn Tuyên Vương Miếu (Khổng Miếu) đó là theo từ điển Trung Quốc. Theo từ điển Việt Nam như "Đại Nam quốc âm tự vị" (1895 - 1896): "Miếu, Văn Thánh Miếu: Miếu nơi thờ Đức Khổng Tử". Theo các tài liệu sử học, tác giả chứng minh rằng Văn Miếu nơi thờ Đức Khổng Tử được xác nhận sự kiện vào thế kỷ XI, nhà Lý đã có công trong việc tu bổ và xây dựng thêm (?) đền thờ Khổng Tử vào năm 1070, 1156, 1171 chứ không phải Văn Miếu được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1070 thời vua Lý Thánh Tông như bao lâu nay mọi người truyền bá.

 

86. ĐỖ HẢO. Phát hiện rùa đá thứ 84 ở Văn Miếu / Đỗ Hảo // Hà Nội mới, 1991. - 12 tháng 10

Ngày 8/10/1991, khi đào đắp kè lại 4 hồ nước ở Văn Miếu, trung tâm Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã phát hiện thêm một con rùa đá vùi sâu dưới lòng đất (đây là con rùa thứ 84).

 

87. ĐỖ QUỐC BẢO. Sao Khuê sáng toả / Đỗ Quốc Bảo // Hà Nội ngày nay, 2012. - Số 46, 25 tháng 11, tr.6

Khuê Văn Các nằm trong quần thể di tích hạng đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã chính thức trở thành biểu tượng của Hà Nội. Người tổ chức Khuê Văn Các là quan Tổng trấn Quận công Nguyễn Văn Thành (1758 - 1817) trong triều Nguyễn. Gác Khuê Văn còn là nơi bình văn của các sĩ tử đã trúng khoa thi hội.

 

88. HÀ NGUYỄN. Chốn lâm tuyền nơi Kẻ Chợ / Hà Nguyễn // Hà Nội mới, 1999. - 11 tháng 4, tr.3

Văn Miếu - Quốc Tử Giám được khởi lập từ năm 1070 để thờ đức thánh Khổng Tử và các bậc tiên nho, danh nhân của đất nước. Đây là trường Quốc học cao cấp đầu tiên của Việt Nam. Hiện nay Văn Miếu còn bảo tồn khá vẹn nguyên nhiều hiện vật quý giá, là nơi thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đến tìm hiểu về văn hoá Việt Nam.

 

89. HẢI NINH. Trùng tu tôn tạo bổ sung cho Văn Miếu - Quốc Tử Giám / Hải Ninh // Người Hà Nội, 2003. - Số 9, 28 tháng 2, tr.2

Tác giả đề nghị bổ sung vào Văn Miếu 3 công trình mới: Tượng đài "Chuông vàng 1000 năm Thăng Long - Hà Nội" (gồm quả chuông và tháp chuông), cổng "Ngàn năm văn hiến", cầu đá cổ nối giữa hồ Văn và bờ.

 

90. HOÀNG NAM. Thăng Long - Đất hiền tài / Hoàng Nam // Lao động Thủ đô, 2013. - Số 24, 23 tháng 2, tr.8

Là kinh đô của hầu hết các triều đại phong kiến Việt Nam, Thăng Long - Hà Nội cũng chính là mảnh đất nuôi dưỡng nhân tài, nơi khởi nguồn của những chính sách đào tạo, khuyến học và tuyển chọn nhân tài cho đất nước. Ngày nay cũng chỉ Hà Nội còn lưu giữ khá trọn vẹn gần 100 tấm bia tiến sĩ và khu trường đại học đầu tiên.

 

91. HỒNG HẠNH. Hoàn thành hồ sơ đề cử 82 bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám / Hồng Hạnh // Kinh tế & Đô thị, 2009. - Số 206, 4 tháng 11, tr.3

Bộ hồ sơ gồm 8 mục chính: giới thiệu tóm tắt về di sản, tổ chức đề cử, nội dung chi tiết về si sản, thông tin pháp lý, kế hoạch bảo vệ, quản lý..., quan trọng nhất là phần so sánh đối chiếu với các tiêu chí của UNESCO. Bia đá các khoa thi Tiến sĩ triều Lê Mạc (1442 -1779) tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám là những tấm bia Tiến sĩ duy nhất ở Việt Nam và thế giới có bài ký ghi lịch sử các khoa thi và triết lý của các triều đại về nền giáo dục đào tạo. Tính hiếm có thể hiện ở nội dung, cách thức và điều kiện dựng bia, ở những giá trị lịch sử, mỹ thuật, ảnh hưởng xã hội của bia.

 

92. Khởi công xây dựng khu Thái học Văn miếu - Quốc tử Giám // An ninh Thủ đô, 1999. - Số 321, 16 tháng 7, tr.6

Theo Ban chỉ đạo xây dựng khu Thái học trong Văn Miếu-Quốc Tử Giám, dự án xây dựng khu Thái học đã được thông qua với tổng kinh phí xây dựng là 13 tỷ 900 triệu đồng, do Tổng Công ty dầu khí Việt Nam tài trợ toàn bộ.

 

93. HƯƠNG THẢO. Khuê Văn Các - Biểu tượng của Thủ đô / Hương Thảo // Hà Nội mới, 2013. - Số Xuân, tr.19

Khuê Văn Các được chọn là biểu tượng của Hà Nội vào ngày 21/11/2012 khi Luật Thủ đô được Quốc hội thông qua. Khuê Văn Các nằm trong khuôn viên Quốc Tử Giám và được xây dựng năm 1805 dưới triều Nguyễn.

 

94. BONIFACY, LIEUTENANT COLONEL. La pagode des corbeaux / Lieutenant Colonel Bonifacy. - L'avenir du Tonkin, 1928. - 16 November

Người Pháp gọi Văn Miếu là chùa quạ vì ở đó có nhiều quạ. Bài báo giới thiệu lịch sử xây dựng Văn Miếu, tiểu sử Khổng Tử, kiến trúc Văn Miếu, các khu vực thờ trong Văn Miếu Hà Nội.

 

95. LÊ THANH HIỀN. Đầu năm nguyên thủ quốc gia bái kiến tại Văn Miếu Hà Nội : Lật chồng báo cũ / Lê Thanh Hiền sưu tầm và biên soạn // Xưa & Nay, 2006. - Số 255, tháng 3, tr.20+21

Về sự kiện chủ tịch Hồ Chí Minh làm lễ thu tế ở Văn Miếu Hà Nội ngày 21/10/1945 và Quyền chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng dự lễ thu tế tại Văn Miếu Hà Nội ngày 22/9/1946.

 

96. MAI THỤC. Suy ngẫm cùng văn bia tiến sĩ / Mai Thục // Phụ nữ thủ đô, 1999. - Số 33, 25 tháng 8, tr.1+7

Năm 1070, Lý Thánh Tông cho xây Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử để cúng tế và cho Hoàng Thái tử đến học. Năm 1076 lập Quốc Tử Giám để đào tạo và tuyển chọn người hiền tài cho bộ máy nhà nước. Năm 1484 Lê Thánh Tông cho xây dựng bia ghi tên các tiến sĩ ở Văn Miếu nhằm biểu dương và khuyến khích những người tài đồng thời để răn dạy kẻ sĩ muôn đời về trách nhiệm và đạo lý.

 

97. MALARNEY, SHAUN KINGSLY. Văn Miếu Hà Nội và bệnh dịch năm 1903 / Malarney, Shau Kingsly // Xưa & Nay, 2004. - Số 215, tr.28-31

Miêu tả sự kiện xảy ra tại Việt Nam trong thời gian xảy ra nạn dịch hạch vào năm 1903 giúp ta hiểu thêm về lịch sử Văn Miếu, Những quan hệ giữa quan viên Việt Nam và chính quyền Pháp và kinh nghiệm của người dân Việt Nam khi có nạn dịch vào đầu thế kỷ 20.

 

98. MẠNH CƯỜNG. Những người thợ khắc bia đề danh tiến sĩ / Mạnh Cường // Hà Nội mới, 1992. - 29 tháng 3

Theo sử cũ, khoa thi đầu tiên của triều Lê được tổ chức vào 1442-1484 mới có tục đề đánh tiến sĩ trên bia đặt tại Văn Miếu. Triều Lê có 124 khoa thi, mỗi khoa thi là 1 tấm bia đá, song hiện tại chỉ có 82 tấm bia. Dựa vào những tư liệu cùng sử sách, chúng ta hiểu những người thợ đá với bàn tay khéo léo tạo nên những tấm bia lịch sử.

 

99. MỸ VĂN. Tấm bia tiến sĩ đầu tiên ở Văn Miếu / Mỹ Văn // Hà Nội mới cuối tuần, 2007. - 29 tháng 9, tr.3

Có dịp vào thăm Văn Miếu sẽ thấy vườn bia Tiến sĩ có giá trị bậc nhất ở khu di tích đặc biệt này. Tại đình bia bên phải, chính giữa có đặt 1 tấm bia đá. Bia tạc năm Hồng Đức thứ 15 (1484) đời Lê Thánh Tông, khắc tên Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1442). Bia 1 mặt, khổ 102x107cm. Diềm bia chạm hình mặt trời, mây, mưa, xung quanh hoa lá xoắn. Toàn văn chữ Hán, khắc chân phương gồm 49 dòng, khoảng 1950 chữ. Văn bia còn cung cấp tư liệu quý về lịch sử và khoa cử, là một áng văn chương tuyệt đỉnh.

 

100. NHẠC VÂN ANH. Người đầu tiên trùng tu, tôn tạo Văn Miếu - Quốc Tử Giám / Nhạc Vân Anh // Lao động Thủ đô cuối tuần, 2013. - Số 105, 31 tháng 8, tr.7

Được coi là "Bề tôi xã tắc" nổi tiếng nhân đức, khoan hậu, Tể tướng nhà Lê, Nguyễn Quý Đức đã để lại nhiều tiếng thơm cho hậu thế. Bên cạnh việc dạy dỗ và giúp chúa trị vì đất nước như một tướng phụ, ông còn có công lớn trong bang giao với nhà Thanh và là người khởi xướng việc tôn tạo, trùng tu và dựng thêm bia Tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám năm 1716 - 1717. Ông là người làng Đại Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội ngày nay. Sau khi mất, dân làng Đại Mỗ thờ ông là Phúc thần trung đẳng.

 

101. PHƯƠNG HẠNH. 82 bia Tiến sĩ Văn Miếu được công nhận là Di sản tư liệu Thế giới / Phương Hạnh // Tuổi trẻ thủ đô, 2013. - Số 1173, 27 tháng 2, tr.7

Ngày 25/2, 82 bia Tiến sĩ đã chính thức được công nhận là Di sản thư liệu Thế giới của UNESCO. Hệ thống bia đá Tiến sĩ không những là tác phẩm nghệ thuật độc đáo mà còn là nguồn tư liệu phản ánh giai đoạn lịch sử hơn 300 năm dưới thời Lê - Mạc.

 

102. P.V. Đúc thành công 4 pho tượng thờ tại nhà Thái Học khu di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám / P.V // An ninh Thủ đô, 2003. - Số 974, 8 tháng 4, tr.9

Các nghệ nhân đúc đồng Ngũ Xá đúc thành công 4 pho tượng thờ các vua lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lê Thánh Tông và tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An. Lễ nghênh rước tượng dự kiến tổ chức vào 19-5-2003. Đây là một công trình văn hoá đón chào Seagames 22 và 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

 

103. PHẠM HOÀNG HIỆP. Văn Miếu - Quốc Tử Giám / Phạm Hoàng Hiệp // Hà Nội ngàn năm, 2010. - Số 76, tháng1, tr.12-13

Văn Miếu được vua Lý Thánh Tông dựng năm 1070, Quốc Tử Giám được lập năm 1076 dưới triều vua Lý Nhân Tông. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, Văn Miếu được trùng tu, sửa chữa nhiều lần. Hiện 82 bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám được nước ta đề cử với UNESCO là di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

 

104. PHAN PHƯƠNG THẢO. Một số di tích lịch sử - văn hoá Hà Nội qua tư liệu địa bạ / Phan Phương Thảo // Nghiên cứu lịch sử, 2006. - Số7, tr.27 – 35

Vị trí, diện tích, giáp giới... của một số công trình văn hoá - lịch sử cổ ở Hà Nội là Văn Miếu, Trường thi, Bảo Tuyền cục, đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc thời Lý và thời Nguyễn theo nguồn tư liệu địa bạ Hà Nội đầu thế kỷ 19.

 

105. PHƯƠNG HOÀ. Hồ Văn nay mất nét văn / Phương Hoà // Phụ nữ thủ đô, 1999. - Số 34, 25 tháng 8, tr.1+11

Hồ Văn là minh đường của Văn Miếu-Quốc Tử Giám trước kia, tượng trưng cho nghiên mực khổng lồ. Hồ Văn ngày càng bị thu hẹp lại do quá trình đô thị hoá. Để trả lại vị thế và vẻ đẹp xưa cho hồ Văn, một dự án bảo tồn, tu bổ, tôn tạo và khai thác du lịch Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã được Sở Văn hóa Thông tin phê duyệt và đưa vào thi công.

 

106. Temple de la littérature = Văn Miếu - Quốc Tử Giám / Jonathan S. Linen, Vice Président, Nguyễn Trãi. - H. ; Thế giới, 2009. - 95tr.:ảnh; ; 20cm

Cung cấp những thông tin về giá trị lịch sử, văn hoá, nghệ thuật kiến trúc của Văn Miếu - Quốc Tử Giám và đôi nét về giáo dục dưới các triều đại phong kiến Việt Nam.

 

107. SAGEMUELLER, ERNST. Văn Miếu - Quốc Tử Giám : Cuốn sổ tay toàn diện đầu tiên / Ernst Sagemueller; Thế Thục, Hoàng Thế Nhiệm: ảnh; Nguyễn Kiên thiết kế. - H. : Thông tấn, 2001. - 89tr. ; 21cm

Đôi nét về lịch sử và kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám, nền giáo dục ở Việt Nam xưa và Khổng Tử - người thầy của Nho học.

HVL 1202-1203

 

108. TÔN THẤT THỌ. Về thời điểm dựng bia Văn Miếu Hà Nội / Tôn Thất Thọ // Xưa & Nay, 2013. - Số 427, tháng 5, tr.15+16

Văn Miếu - Quốc Tử Giám có 82 bia đá khắc tên 1306 tiến sĩ. Bia đề tên tiến sĩ được thực hiện từ năm Hồng Đức thứ 15 (1484). Bia khắc tên những người đỗ Tiến sĩ từ năm 1442 (thời Lê Thái Tông) đến năm 1779 (thời Lê Hiển Tông). Bia tiến sĩ là di sản văn hoá minh chứng cho trí tuệ và truyền thống hiếu học của dân tộc ta.

 

109. Văn bia tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long / Ngô Đức Thọ: Khảo cứu, giới thiệu, nguyên văn, dịch chú. - H. : nxb. Hà Nội, 2010. - 942tr. ; 24cm. - (Tủ sách Thăng Long 1000 năm)

Giới thiệu, tìm hiểu thêm về lịch sử giáo dục thời trung đại. Gồm 2 phần. Phần 1: Khảo cứu, giới thiệu hệ thống bia tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Thăng Long. Phần 2: Văn bia tiến sĩ Quốc Tử Giám, Thăng Long được trích nguyên văn, phiên âm, dịch và khảo chú.

HVL3000 3009

 

110. Văn Miếu - Quốc Tử Giám. - H. : Edition Thế giới, 2004. - 94p. ; 20cm

Giới thiệu lịch sử hình thành, kiến trúc, nghệ thuật và cấu trúc xây dựng khu Văn Miếu-Quốc Tử Giám.

HPL119 120

 

111. Văn Miếu khảo : Bản phô tô. Sách chữ Hán chép tay. - 40tr. ; 30x18 cm

Một bài thuật ngắn về việc thành lập Văn Miếu ở Thăng Long từ năm Thần Vũ thứ 2 (1070), đời Lý Thánh Tông. Các triều sau tiếp tục hoàn chỉnh những quy chế chính thức của Văn Miếu. Niên hiệu cuối cùng được nhắc đến là năm Gia Long thứ 1 (1802): An Quang Hầu Trần Công Hiến dâng sớ xin cấp 40 mẫu ruộng công để lấy hoa lợi dùng cho việc thờ cúng ở Văn Miếu. Tiếp theo có bài ghi lại việc thành lập Văn Miếu của huyện Thường Phúc, phủ Thường Tín: được dựng từ năm 1695, đời Lê do tiến sĩ họ Dương, làng Nhị Khê khởi sự. Đến năm Tự Đức (1872) vì địa điểm cũ bị úng ngập nên chuyển về xã Văn Hội. Cuối sách có bài "Kinh ngoại văn thân vãn Kim Giang Nguyễn tướng công" (Nguyễn tướng công tức Tổng đốc Nguyễn Trọng Hợp).

HHN304

 

112. Văn Miếu Quốc Tử Giám - Le temple de la littérature : Collège des enfants de la nation Hanoi, Vietnam. - H. : Thế giới, 2004. - 94p. ; 20cm

Giới thiệu Văn Miếu - Quốc Tử Giám: lịch sử, kiến trúc, các văn bia...

NVN11-15

 

113. VĂN THÂN. Ai dựng bia tiến sĩ nhiều nhất / Văn Thân // Hà Nội mới cuối tuần, 2005. - Số 510, 1 tháng 1, tr. 3

Đó là Thám hoa Nguyễn Quý Đức, người giữ 10 năm cương vị đứng đầu Quốc Tử Giám (1708 - 1717). Ông đã cho dựng tới 21 tấm bia trong tổng số 82 tấm bia ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

 

114. VŨ AN THÁI. Người góp nhiều công sức xây dựng Quốc Tử Giám - Văn Miếu thế kỷ 18 / Vũ An Thái // Hà Nội mới chủ nhật, 2002. - 20 tháng 7, tr.3

Ông Nguyễn Quý Đức (1648 - 1720) người làng Thiên Mỗ, xã Đại Mỗ huyện Từ Liêm, Hà Nội là có nhiều công sức trùng tu, sửa sang Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

 

115. YÊN VÂN. Bia Tiến sĩ Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội: lần thứ hai được thế giới vinh danh / Yên Vân // An ninh Thủ đô, 2011. - Số 3224, 28 tháng 5, tr.4

Ngày 26/5/2011, 82 bia đá các khoa thi Tiến sĩ triều Lê - Mạc (1422 - 1779) tại Văn Miếu Quốc Tử Giám đã được UNESCO phê duyệt vào danh sách Ký ức thế giới. Đây là lần thứ hai, 82 bia Tiến sĩ được thế giới vinh danh. Trước đó ngày 9/3/2010 tại Macau - Trung Quốc, Uỷ ban Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã công nhận di sản bia Tiến sĩ Văn Miếu của Việt Nam. với danh hiệu Ký ức thế giới cấp khu vực.

 

2.4. Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ Cổ Loa

116. BÙI THIẾT. Thành Cổ Loa / Bùi Thiết. - H. : Thanh niên, 1996. - tr.354-355

Thành nằm trên đất xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội. Thành do An Dương Vương xây vào năm 256 trước CN. Thành có 3 vòng thành tổng cộng 16 km. Trong khu vực thành còn nhiều di tích vật chất mấy ngàn năm qua. Thành là kinh đô nước Âu Lạc thời An Dương Vương (257-206 trước CN), Lý Nam Đế (570-602), Ngô Quyền (939-944).

 

117. CHÍ KIÊN. Thành Cổ Loa / Chí Kiên // Hà Nội mới, 1969. - 6 tháng 3, tr.2

Giới thiệu lịch sử và truyền thống dân tộc vẻ vang của thành Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội).

 

118. Cổ Loa thành sự tích điền thổ sắc phong hợp biên : Bản phô tô, sách chép tay chữ Hán. - 130tr. ; 21x29cm

Sự tích Thục An Dương Vương và thành Cổ Loa. Số ruộng thờ, 23 đạo sắc phong, 9 đạo lệnh chỉ của vua chúa các triều.

HHN131

 

119. DUMOUTIER, G.. Etude historique et archéologique sur Co Loa / G. Dumoutier. - P. : Leroux, 1893. - 114p.

P.1: Lịch sử và khảo cổ về Cổ Loa. P.II: tài liệu về văn bia, nguyên bản và bản dịch. P.III: các truyền thuyết thu thập ở Bắc Kỳ liên quan đến nhà Thục và nước Văn Lang: Truyện thần Tản Viên, Phù Đổng thiên vương, hai chị em Tấm Cám truyện Trầu Cau.

TVQG SN247, M3837

 

120. ĐỖ VĂN NINH. Thành Cổ Loa có mấy vòng? Nhìn lại lịch sử / Đỗ Văn Ninh // Thế giới mới, 2002. - Số 494, 8 tháng 7, tr.32-34

Ý kiến về vòng thành trong cùng (Kiến thành hay Thành nội) có chu vi 1650m cao trung bình 5m là do Mã Viện xây sau khi đánh thắng Hai Bà Trưng do phát hiện một số di chỉ là sản phẩm của người Hán. Như vậy thành Cổ Loa thời An Dương Vương chỉ có 2 vòng thành chứ không phải là 3 vòng thành.

 

121. ĐỨC HẢI. Dự án bảo tồn tôn tạo di tích Cổ Loa: Mười năm vẫn... treo! / Đức Hải // Hà Nội mới cuối tuần, 2006. - Số 12, 25 tháng 3, tr.6

Nguyên nhân chậm trễ 10 năm mà Dự án vẫn chưa khởi động khiến cho di tích Cổ Loa ngày càng bị xâm hại nghiêm trọng.

 

122. Etude histoirque et archeologique sur Co_loa. - [Kn] : [Kxd], 19??. - 114p. ; 21cm

Đoàn nghiên cứu Dumoutier về Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Tài liệu nghiên cứu về lịch sử và khảo cổ vùng Cổ Loa, kinh đô nước Âu Lạc, có kèm theo các sắc phong, văn bia bằng chữ Hán.

NVL50

 

123. HOÀNG MAI. Cổ Loa: Dấu ấn Âu Lạc - niềm tự hào Thủ đô / Hoàng Mai // Tuổi trẻ thủ đô, 2013. - Số 1170, 20 tháng 2, tr.7

Khu di tích Cổ Loa là địa chỉ văn hoá đặc biệt của Thủ đô cả nước. Với diện tích bảo tồn gần 500ha, khu vực thành nội có nhiều di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật như: khu Đền Thượng thờ An Dương Vương, đình Ngự Triều, am thờ Mỵ Châu và chùa Bảo Sơn. Tương truyền thành gồm 9 vòng xoáy ốc nhưng dấu tích chỉ còn 3 vòng. Thành Cổ Loa không những có giá trị về mặt quân sự mà còn là bằng chứng sáng tạo về trình độ kỹ thuật văn hoá của người Việt cổ. Khu di tích này cần được các cấp, các ngành quan tâm để xứng danh là di tích Quốc gia đặc biệt.

 

124. HƯƠNG QUẾ. Trước tình trạng di tích Cổ Loa bị xâm hại: làm gì để bảo tồn lịch sử? / Hương Quế // Lao động thủ đô, 2006. - Số 25, 28 tháng 3, tr.6

Chiều dài các vòng thành Cổ Loa dài 12,8 km, hụt 3 km so với số liệu đo đạc trước đây. Vẫn còn những lúng túng trong tu tạo, quản lý di tích Cổ Loa.

 

125. KHÁNH VY. Món "Xêu" ở Cổ Loa thành / Khánh Vy // Truyền hình Hà Nội, 2013. - Số 102, tháng 4, tr.90

Xêu là món đặc sản của vùng Cổ Loa, gồm bún rối và rau cần xào lẫn với nhau, vị rất đậm đà và dân dã. Tương truyền món này do vị đầu bếp dưới thời An Dương Vương sáng tạo ra. Món Xêu thường được làm trong lễ hội Cổ Loa vào ngày mùng 6 tháng Giêng và trong 3 ngày Tết ở một số làng thuộc vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ.

 

126. LẠI VĂN TỚI. Đồ đồng văn hoá Đông Sơn ở Cổ Loa / Lại Văn Tới // Khảo cổ học, 2006. - Số 5, tr.30 – 37

Thành Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh (Hà Nội). Đề cập đến các di tích lịch sử và di vật đồng thau giai đoạn Cổ Loa (giai đoạn văn hoá Đông Sơn) - cơ sở hình thành nhà nước Âu Lạc thời An Dương Vương.

 

127. LÊ TRẦN VÂN ANH. Bảo tồn di tích Cổ Loa hướng về tổng thể / Lê Trần Vân Anh // Hà Nội mới, 2007. - 24 tháng 10, tr.1+7

Việc nghiên cứu giá trị lịch sử, văn hoá của khu di tích Cổ Loa được tiến hành từ lâu. Tới năm 1962, có lẽ là sau khi giới khảo cổ phát hiện những dấu tích quan trọng tại đây, Cổ Loa chính thức được xếp hạng di tích, lịch sử, văn hoá. Đã có nhiều cuộc kiểm kê được thực hiện ở Cổ Loa bao gồm cả khảo sát kèm giải pháp bảo tồn cụ thể: Đình Ngự triều di quy, Giếng Ngọc, Am Mỵ Châu... Bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích Cổ Loa là việc được Hà Nội quan tâm nhưng vì nhiều lý do có lẽ là chậm có giải pháp tầm vĩ mô - một dự án tổng thể bao gồm cả quy hoạch, bảo tồn, phát huy giá trị khu di tích gắn với phát triển kinh tế xã hội vùng và sự kết hợp chặt chẽ, công việc đó chưa đe, lại kết quả xứng với kỳ vọng.

 

128. MAI CHI. Khám phá thú vị về di tích Mắt Rồng / Mai Chi // Hà Nội mới, 2005. - 12 tháng 3, tr.7

Những kết quả khảo cổ trong khu vực thành Nội, quanh đền An Dương Vương tại di tích Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội).

 

129. MINH NGỌC. Tối nay 14 - 2, Khu Di tích Cổ Loa đón bằng Di tích Quốc gia đặc biệt: Tự hào và trách nhiệm / Minh Ngọc // Hà Nội mới, 2013. - 14 tháng 2, tr.5

Quần thể di tích Cổ Loa có khoảng 60 di tích thành phần, trong đó có 7 di tích cấp Quốc gia. Nổi bật là thành Cổ Loa với diện tích gần 46ha, gồm 3 vòng thành đắp đất khép kín, dài gần 16km. Đền Thượng được dựng trên khu đất rộng 19.138,6m2. Cùng với đôi rồng đá mang phong cách nghệ thuật thời Lê, 5 tấm bia đá và nhiều hiện vật có giá trị lịch sử, văn hoá đặc sắc. Tối 14/2, lễ đón Bằng di tích Quốc gia được trao cho Khu Di tích Cổ Loa (xã Cổ Loa, huyện Đông Anh). Xã Cổ Loa phải có kế hoạch di dân hợp lý và nâng cao công tác khai thác tài nguyên du lịch.

 

130. MINH TÂM. Đền thờ quan Nội Hầu trong khu di tích Cổ Loa / Minh Tâm // Người Hà Nội, 2006. - Số 39, tháng 9, tr.2

Quan Nội Hầu tổng chỉ huy cùng hai con trai là Đào Đống và Đào Vực thống lĩnh toàn bộ quân đội Âu Lạc. Ngài là bậc thao lược kỳ tài đã nhiều lần đánh thắng quân tướng Triệu Đà...

 

131. MINH THU. Quy hoạch di tích Cổ Loa / Minh Thu // Kinh tế & Đô thị, 2002. - Số 673, 15 tháng 5, tr.1+5

Cổ Loa là một di tích có tầm cỡ quốc gia nhưng đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng do sự thiếu ý thức của người dân. Theo định hướng, quy hoạch quy mô di tích khoảng 870ha, bảo tồn trong ranh giới 483ha. Hiện nay vẫn còn hàng trăm hộ dân đang sinh sống trong khu vực di tích.

 

132. NGUYỄN DOÃN TUÂN. Truyền thuyết và hiện thực về việc xây thành Cổ Loa và thành Thăng Long ở Hà Nội / Nguyễn Doãn Tuân // Văn hóa nghệ thuật, 1995. - Số 11, tr.36, 40-41

Nghiên cứu, khảo sát việc xây thành Cổ Loa và thành Hà Nội trong lịch sử và hiện tại.

 

133. NGUYỄN HOÀ. Hơn 10 năm, vẫn chưa hoàn thành trên... giấy / Nguyễn Hoà // Văn hóa, 2006. - Số 1178, tháng 2, tr.8+9

Về tiến độ bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích Quốc gia Thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội).

 

134. NGUYỄN KHÁNH. Di tích Cổ Loa: nguy cơ bị "nhấn chìm" / Nguyễn Khánh // Người Hà Nội cuối tuần, 2008. - Số 48, 27 tháng 11, tr.8,9

Được đánh giá một trong những thành cổ có niên đại sớm nhất và hiếm có nhất ở Việt Nam, nhưng trải qua bao thăng trầm lịch sử, thành Cổ Loa uy nghi ngày nào đang dần trở nên méo mó đang đứng trước nguy cơ bị xoá sổ. Diện tích của thành đang bị thu hẹp dần, nguyên nhân chủ yếu là do các hộ dân đã lấn chiếm và đang xây dựng nhà kiên cố, người dân cứ xây nhà ở tuỳ tiện trên mặt thành. Tuy nhiên, chính quyền địa phương, Ban quản lý di tích lại chưa có biện pháp cứng rắn nào để ngăn chặn, xử lý tình trạng này.

 

135. NGUYỄN QUANG HÀ. Đền thờ An Dương Vương ở Cổ Loa / Nguyễn Quang Hà // Xưa & Nay, 2004. - Số 225, tr.32+33

Thành Cổ Loa là một thành cổ có niên đại sớm nhất ở nước ta và cũng là một trong những thành xuất hiện sớm trên thế giới. Di tích đền Cổ Loa vẫn còn lưu giữ nhiều sắc chỉ, văn bia...

 

136. NGUYỄN QUANG LỤC. Hà Nội những kinh thành có trước Hà Nội : Thành Cổ Loa, thành Liên Lâu, thành Long Biên / Nguyễn Quang Lục. - S. : Gió Việt, 1953. - 233tr. ; 20cm

Nghiên cứu hoàn cảnh lịch sử, truyền thuyết, vị trí địa lý của Thành Cổ Loa; thành Liên Lâu là kinh thành của Giao Chỉ bộ; Long Biên tức Tống Bình.

 

137. NGUYỄN THU THUỶ. Bí mật thành Cổ Loa - truyền thuyết trở về cuộc sống / Nguyễn Thu Thuỷ // Hà Nội mới chủ nhật, 2005. - 20 tháng 3, tr.2

Vén bức màn bí ẩn mấy nghìn năm bao trùm lên Loa Thành. Huyền thoại đã dần dần hé lộ qua những đợt khai quật khảo cổ học trong gần 50 năm qua.

 

138. NHẬT CHƯƠNG. Về tục rước cỗ bỏng thờ ở Cổ Loa / Nhật Chương // Hà Nội mới chủ nhật, 2002. - Số 381, 13 tháng 7, tr.3

Tục này để nhớ về một thứ lương thực khô dùng cho quân Thục An Dương Vương thời kỳ chống lại quân Triệu Đà xâm lược.

 

139. P.T.. Quy hoạch chi tiết khu vực di tích Cổ Loa / P.T. // Phụ nữ thủ đô, 2003. - Số 2, tr.12

Với diện tích 830,34ha thuộc địa bàn các xã Cổ Loa, Việt Hùng, Dục Tú và Uy Nỗ. Với dự kiến bảo tồn, tôn tạo các di tích và di chỉ khảo cổ khu vực quy hoạch phát triển hạ tầng, kinh tế - xã hội và hỗ trợ khu vực di dân.

 

140. Phát hiện Cổ Loa 1982. - H. : [knbx], 1982. - 159tr.: ảnh ; 19cm

Những hiện vật được phát hiện ở gò Mả Tre - Cổ Loa 1982: trống đồng, vũ khí, công cụ, đồ dùng. Những bài viết phân tích ý nghĩa, tầm quan trọng của những hiện vật trên đối với công tác nghiên cứu nền văn minh sông Hồng, một lịch sử Cổ Loa trước Âu lạc. Những bài viết về trống đồng Cổ Loa.

 

141. SƠN KỲ. Có mấy vòng thành Cổ Loa / Sơn Kỳ // Hà Nội mới tin chiều, 2005. - 3 tháng 1, tr.9

Theo tác giả: di tích có 3 vòng khép kín, toà thành của Mã Viện chính là vòng thành Nội hiện vẫn còn lại dấu tích, thành Cổ Loa thời An Dương Vương thì có vòng thành Ngoại và thành Trung mà thôi.

 

142. Thành Cổ Loa : Bản vẽ vết cũ thành Cổ Loa, 1943 ; 18x24

Xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội. Thành dựng năm 257 trước công nguyên vào thời Thục An Dương Vương. Thành đắp bằng đất theo kiểu xoắn trôn ốc, nên có tên là Loa Thành, cũng có tên là Tư Long thành hay Côn Lôn thành. Thành có 3 vòng: vòng ngoài 8km; vòng giữa 6,5km; vòng trong 1,64km. Thành là kinh đô của nước ta thời Thục Phán tức An Dương Vương, Quốc hiệu nước là Âu Lạc. Nó là một công trình quân sự vững chắc đã chống lại và đánh bại quân xâm lược Triệu Đà năm 210 trước công nguyên đồng thời là một trung tâm văn hoá chính trị kinh tế thời bấy giờ.

VTTKHXH 11777

 

143. Thành Cổ Loa và rùa thần / Nam Ninh: sưu tầm và biên soạn // Người Hà Nội, 2011. - Số 103, 17 tháng 12, tr.28-29

Thời kì Hùng Vương và An Dương Vương đã được khẳng định là có thật(trên cơ sở những khai quật). Thế kỉ XIV, sử sách nói nhiều về AnDương Vương, thế kỉ XV xuất hiện tên Loa Thành. Sự thật chứng minh An Dương Vương là người Việt xưa và là người xây thành ốc này. Cái tên Loa thành xuất hiện từ thể kỉ XV. Thành Cổ Loa được xây bằng đất, thành có ba vòng. Chu vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km. Công trình cổ loa đồ sộ, trong khi khu vực Cổ Loa được coi là một nền đất yếu. Vì thế việc xây dựng thành Cổ Loa khó khăn, nhưng cuối cùng thành vẫn đứng vững.

 

144. TRẦN QUỐC VƯỢNG. Trên mảnh đất Cổ Loa lịch sử / Trần Quốc Vượng. - H. : Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội, 1970. - 97tr.: ảnh ; 19cm

Giới thiệu khái quát về địa dư và Thành Cổ Loa. Lịch sử của Cổ Loa trước thời An Dương Vương dưới thời các vua Hùng: Truyền thuyết ông Gióng với những cổ vật tìm được. Lịch sử và truyền thuyết dòng họ Thục. Cổ Loa trong thời An Dương Vương Thục Phán. Lịch sử và truyền thuyết về quá trình xây dựng thành Cổ Loa.

 

145. TRẦN TRÍ DÕI. Tiếp tục tìm hiểu về xuất xứ và ý nghĩa địa danh Cổ Loa qua cách giải thích địa danh này của Giáo sư Đào Duy Anh / Trần Trí Dõi // Ngôn ngữ, 2005. - Số 11, tr.21-27

Phân tích, lý giải cách giải thích chưa thật hợp lý địa danh Cổ Loa chuyển đổi từ tên Nôm ra Hán Việt của Giáo sư Đào Duy Anh.

 

146. TRẦN VĂN MỸ. Về hội Cổ Loa / Trần Văn Mỹ // Hà Nội mới, 2006. - 4 tháng 2, tr.3

Nét đặc sắc trong lễ hội Cổ Loa ở Đông Anh, Hà Nội, nơi thờ An Dương Vương.

 

147. TRƯƠNG QUANG HOẰNG. Bỏng chủ Cổ Loa / Trương Quang Hoằng // Hà Nội mới, 1999. - Số 206, tháng 3, tr.6

Về trẩy hội Cổ Loa mùng 6 tháng Giêng âm lịch, du khách sẽ được thưởng thức món bỏng chủ, có nguồn gốc từ câu chuyện truyền thuyết về An Dương Vương dựng nước. Ngày nay món quà đặc sản này vẫn là lễ vật trang trọng đối với nhân dân Cổ Loa trong các dịp lễ hội.

 

148. VĂN QUẾ. Di tích Cổ Loa, 10 năm mòn mỏi / Văn Quế // An ninh Thủ đô, 2006. - Số 1696, 24 tháng 3, tr.11

Những ngôi nhà cao tầng với đủ loại kiến trúc vẫn ngấm ngầm hoàn thiện khiến di tích Cổ Loa có nguy cơ bị "nhấn chìm" trong cảnh hỗn độn mà chính quyền địa phương và Ban quản lý di tích biết nhưng không ngăn chặn được. Hàng năm có 15 vạn lượt khách tham quan Cổ Loa, một con số không nhiều so với những di tích trọng điểm khác của Hà Nội do hệ thống dịch vụ ở đây quá sơ sài.

 

149. VŨ ĐỨC TÂN. Truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thuỷ và pho tượng Mỵ Châu ở Cổ Loa / Vũ Đức Tân // Người Hà Nội, 2005. - Số 12, tr.2

Truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thuỷ. Những suy nghĩ của tác giả về việc đánh giá pho tượng Mỵ Châu ở Cổ Loa qua bài viết "Về pho tượng nàng Mỵ Châu cụt đầu" ở số trước. Di tích Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội.

 

150. YÊN VÂN. Khai quật khảo cổ di tích Cổ Loa / Yên Vân // An ninh thủ đô, 2012. - Số 3578, 1 tháng 8, tr.11

Thành Ngoại, khu di tích Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) vừa được phép khai quật với tổng diện tích lên tới 300m2, thời gian từ 1/8 đến cuối tháng 8/2012 để tìm hiểu rõ hơn hình thái kiến trúc của thành Cổ Loa và cuộc sống của cư dân Việt cổ. Trong 50 năm qua, di chỉ Đồng Vân, Xuân Kiều, Bãi Mèn, Bãi Sặt, Đình Tràng, Đường Mây, Thành Nội đã được khai quật. Quy hoạch tổng thể bảo tồn tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích Thành Cổ Loa tỉ lệ 1/2000 đã được trình thủ tướng chính phủ nhằm xây dựng và tôn vinh Thành Cổ Loa trở thành "Công viên Lịch sử - Sinh thái - Nhân văn của Thủ đô Hà Nội".

 

2.5. Di tích lịch sử Đền Hai Bà Trưng

151. Đền Hai Bà Trưng / Lam Khê, Khánh Minh (sưu tầm, biên soạn) // Danh lam thắng cảnh Hà Nội. - H., 2010. - Tr.42-43

Đền thờ Hai Bà Trưng được xây dựng tại thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh (Hà Nội) để tưởng nhớ công đức của Hai Bà Trưng. Lễ hội của đền được tổ chức vào ngày mùng 6 tháng Giêng. Đền được xếp hạng là di tích cấp quốc gia năm 1980.

HVL3062

 

152. Đền Hai Bà Trưng / Lưu Minh Trị (chủ biên), Đào Đình Bắc, Nguyễn Thị Dơn... // Hà Nội danh thắng và di tích. - H., 2011. - Tr.566-572.

Đền thờ Hai Bà Trưng ở xã Mê Linh, huyện Mê Linh (Hà Nội) được xây dựng ngay trên chính mảnh đất thiêng nơi Hai Bà sinh ra, lớn lên và cũng chính là nơi Hai Bà xưng vương, lập hoàng cung. Tương truyền, vào thời vua Lý Anh Tông (1138 - 1175), trời hạn hán. Hai Bà Trưng báo mộng, nhà vua làm lễ cầu đảo được mưa cho dân cày cấy, bèn truyền lập đền thờ Hai Bà tại cố hương. Cho đến nay, đền đã qua 5 lần trùng tu xây dựng. Đền thờ Hai Bà Trưng tại Mê Linh có quy mô hoành tráng bậc nhất trong hệ thống các di tích thờ Hai Bà Trưng trong cả nước hiện nay.

HVL3155

 

153. GIANG QUÂN. Dấu tích kinh thành / Giang Quân, Phan Tất Liêm. - H. : Nxb.Hà Nội, 1987. - 171tr, ; 19cm. - (Tủ sách người Hà Nội)

Giới thiệu lịch sử, di tích lịch sử, sự tích danh lam thắng cảnh nổi tiếng: hồ Tây, hồ Gươm, hồ Trúc bạch, Thủ lệ, Thành Cổ Loa, Cột Cờ, Ô Quan Chưởng, đền Súng xã Đường Lâm, chùa Một cột, chùa Trăm Gian. Sự tích, diễn biến và những liên quan đến hội Gióng, hội đền Hai Bà Trưng, hội Đống Đa, hội đền An Dương Vương.

HVV696 697

 

154. GIANG QUÂN. Phất cờ nương tử / Giang Quân // Hà Nội mới, 2005. - 10 tháng 3, tr.7

Truyền thuyết về Hai Bà Trưng. Những nơi thờ và tổ chức lễ hội tưởng niệm Hai Bà Trưng ở đồng bằng Bắc Bộ. Nói tới đền Hát Môn (Hà Tây), đền Hạ Lôi (Mê Linh, Vĩnh Phúc), đền Đồng Nhân (phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội).

 

155. Hai Bà Trưng (đền) / Nguyễn Văn Tân (biên soạn) // Cẩm nang du lịch văn hóa tâm linh Việt Nam. - H., 2014. - Tr.148

Đền thờ Hai Bà Trưng tọa lạc trên một khu đất cao thoáng đãng thuộc thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội. Kiến trúc đền gồm: tam quan, nhà Tiền tế, nhà Trung tế và Hậu cung. Hàng năm, đền tổ chức lễ hội tưởng nhớ công đức của Hai Bà và các tướng lĩnh vào ngày mùng 6 tháng Giêng.

VV75698 75699

 

156. Hội đền Hai Bà Trưng // Địa chí văn hóa dân gian Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. - H., 1991. - Tr.198-200

Về Hai Bà Trưng, ở Thăng Long - Hà Nội có nhiều nơi thờ phụng nhưng hội chỉ mở ở 3 nơi chính: Đồng Nhân, Hạ Lôi và Hát Môn. Về các nghi lễ và hoạt động chính trong hội đền Đồng Nhân vào mùng 4 - 6 tháng Hai âm lịch; hội đền Hạ Lôi (Mê Linh) vào mùng 6 Tết; hội đền Hát Môn vào mùng 8 tháng Ba (ngày hội quan trọng nhất ở Hát Môn).

HVl 270 271

 

157. Hội Hai Bà Trưng / Lê Trung Vũ (chủ biên), Hoàng Lê, Trần Văn Mỹ... // Lễ hội Thăng Long. - H., 1998. - Tr.83-95

Hội Hai Bà Trưng diễn ra ở ba nơi: đền Đồng Nhân (phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng) từ ngày mùng 3 - 5 tháng 2 âm lịch (chính hội mùng 5 tháng 2); đền Hạ Lôi (xã Hạ Lôi, huyện Mê Linh) vào mùng tháng Giêng; đền Hát Môn (xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ) vào mùng 6 tháng 3 (giỗ Vua Bà), mùng 4 tháng 9 (lập đàn thề) và 24 tháng 12 (lễ chiến thắng). Sự tích Hai Bà Trưng và các nghi lễ, hoạt động diễn ra trong từng lễ hội.

HVV2913

 

158. LÝ TẾ XUYÊN. Chế thắng nhị Trưng phu nhân / Lý Tế Xuyên // Việt điện u linh. - H., 1960. - Tr.22-24

Nhị Trưng phu nhân là hai chị em, chị tên Trắc, em tên Nhị. Hai chị em nguyên họ Lạc, con gái quan Lạc tướng ở Giao Châu, người huyện My Linh, thuộc Phong Châu. Hai bà cất quân đánh đuổi Thứ sử Giao Châu người Hán là Tô Định phải chạy về Nam hải, dẹp yên 60 thành ở lĩnh ngoại, tự lập làm Việt vương đóng ở Chu Diên và đổi họ là Trưng. Nhưng sau Mã Viện vâng lệnh Hán Quang Vũ mang đại binh sang đánh, hai bà yếu thế dần, thua trận và cùng mất vào năm 43 sau CN. Nhân dân thương tiếc lập đền thờ tại An Hát. Đến thờ vua Lý Anh Tông, hai bà linh ứng làm mưa giải hạn cho dân nên được rước về thờ tại phía Bắc nội thành Thăng Long và lập đền ở Cổ Lai, được phong là Trinh Linh phu nhân. Năm Trùng Hưng thứ 4 (1288), hai bà được phong Chế thắng nhị phu nhân.

HVV886

 

159. NGUYỄN BÍCH NGỌC. Hai Bà Trưng trong văn hoá Việt Nam / Nguyễn Bích Ngọc. - H. : Thanh niên, 2009. - 307tr. ; 19cm

Giới thiệu truyền thuyết xung quanh khởi nghĩa Hai Bà Trưng, một số lễ hội, thơ văn và các sáng tác về Hai Bà Trưng.

HVV4524 4525

 

160. NGUYỄN DUY. Truyền thuyết thời Hai Bà Trưng / Nguyễn Duy // Người Hà Nội cuối tuần, 2005. - Số 69, tr.27

Những truyền thuyết về Hai Bà Trưng: nơi Hai Bà tập trận luyện quân, sự kiện về cái chết của Hai Bà.

 

161. NGUYỄN VĂN HÙNG. Đền Hai Bà Trưng / Nguyễn Văn Hùng // Di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội. - H., 2000. - Tr.425-431

 

162. NGUYỄN VINH PHÚC. Có hai làng Hạ Lôi / Nguyễn Vinh Phúc // Người Hà Nội, 1990. - Số 1010, tháng 3. - (Văn vật thủ đô)

Các di tích thuộc về Hai bà trưng ở Hà Nội có 3 ngôi đền chính là: đền Hạ Lôi ở huyện Yên Lãng (nay là huyện Mê Linh), đền Hát Môn ở huyện Phúc Thọ và đền Đồng Nhân ở quận Hai bà Trưng. Ngoài ra có 5 nơi thờ khác trong đó có đền làng Hạ Lôi, Bằng Trù, huyện Thạch Thất.

 

163. NGUYỄN VINH PHÚC. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội / Nguyễn Vinh Phúc. - H. : Nxb.Hà Nội, 1983. - 247tr. ; 19cm

Vị trí địa lý, lịch sử, tình hình xã hội chính trị của quận Giao Chỉ (Âu Lạc - Thục Phán). Tiểu sử, dòng dõi gia đình của Trưng Trắc, Trưng Nhị. Địa lý, lịch sử làng Hạ Lôi, huyện Mê Linh - quê hương của Hai Bà Trưng. Nguyên nhân diễn biến về những trận đánh nổi tiếng của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Sự tích các nhân vật tướng lĩnh của Hai Bà Trưng, xếp theo địa danh: Đan Phượng, Đông Anh, Gia Lâm, Mê Linh, Phúc Thọ, Từ Liêm, Đống Đa, Ba Đình. Các di tích lịch sử thời Hai Bà Trưng.

HVV467 468 469

 

164. NGUYỄN VINH PHÚC. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội và lân cận / Nguyễn Vinh Phúc. - Tái bản có sửa chữa, bổ sung. - Tp.HCM : Nxb. Trẻ, 2005. - 337tr. ; 20cm

Thân thế và sự nghiệp của Hai Bà Trưng; Cuộc khởi nghĩa và kháng chiến chống quân xâm lược Hán của Hai Bà; Các tướng lĩnh và cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội và vùng lân cận; Những di tích về cuộc khởi nghĩa còn đến ngày nay...

HVL1528 1529

 

165. Phúc Yên tỉnh Yên Lãng phủ Hạ Lôi tổng các xã thần tích. - 81tr. ; 31,5x21,5cm

Thần tích 3 xã thuộc tổng Hạ Lôi, phủ Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên. 1. Xã Liêu Trì: 23tr, do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Cao Sơn đại vương Thượng đẳng thần, Cốt Tung Uy Linh Thượng đẳng thần, Thành hoàng Hiền Đức Nhân Hòa Đại vương Trung Đẳng phúc thần, Chính phu nhân Hiền Đức Nhân Hoà Đại vương Trung đẳng Phúc thần. 2/ Xã Hạ Lôi: 39tr, gồm sự tích Trưng Trắc Hoàng đế, Trưng Nhị Hoàng đế, do Nguyễn Bính soạn năm 1572, có bài hịch về việc đánh Tô Định, sao lại vào năm Duy Tân 10 (1916) và sự tích Tứ vị Công Trưởng gồm: Đô Công (Đô Thống chế Tướng quân), Hồ Công (Hồ Quảng Tướng quân), Bạch Công (Bạch Ngọc Tướng quân), Hạc Công (Hạc Lai Tướng quân) . 3/ Xã Nam Cường: 17tr, do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Quý Minh Hiển ứng Đại vương.

AE.A11/8 (VNCHN)

 

166. Phúc Yên tỉnh Yên Lãng phủ Hạ Lôi tổng Hạ Lôi xã thần sắc : Sách viết tay, chữ Hán. - 29tr. ; 32x22,5cm

Thần sắc xã Hạ Lôi thuộc tổng Hạ Lôi, phủ Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên, phong cấp vào các năm Vĩnh Thịnh (2 đạo), Cảnh Hưng (2 đạo), Chiêu Thống (4 đạo), Cảnh Thịnh (3 đạo). Phong cho Bàn Thái Hầu Nội giám Dương Hữu Sủng, Đặng Công Đại vương, Trưng Thị chi thần, Cốt Tung... Đại vương.

AD.A11/4 (VNCHN)

 

167. TRẦN QUỐC VƯỢNG. Đền Hai Bà Trưng : Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 1933 cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng / Trần Quốc Vượng // Hà Nội mới, 1973. - Số 1588, 4 tháng 3, tr.2

Đền chính ở Hát Môn (Hà Tây) và Hạ Lôi (Vĩnh Phúc). Đền thờ Hai Bà ở Hà Nội dựng sau (1142) ở phố Đồng Nhân hàng năm thường có lễ kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà.

 

168. XUÂN CHÍNH. Di tích Quốc gia đặc biệt / Xuân Chính // Truyền hình Hà Nội, 2014. - Số 113, tr.22-25

Ảnh chụp 5 di tích của Hà Nội vừa được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt cuối năm 2013 theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg do Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam ký: đền Hai Bà Trưng, đền Hát Môn, đình Tây Đằng, đền Phù Đổng, hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn.

 

2.6. Di tích lịch sử Đền Hát Môn

169. Đền Hát Môn / Lưu Minh Trị (chủ biên), Đào Đình Bắc, Nguyễn Thị Dơn... // Hà Nội danh thắng và di tích. - H., 24cm

T.1. - 2011. - Tr.572-574

Đền Hát Môn thuộc địa phận thôn Hát Môn, xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ (Hà Nội), nhân dân địa phương thường gọi là đền Hai Bà. Hiện di tích đền Hát Môn gồm các hạng mục công trình: cổng Ngọ môn, Quán tiên, cổng Tam quan và Đền chính. Hệ thống kiến trúc ở đây rất đơn giản, chủ yếu đóng bén bào trơn, mộng mạng chặt chẽ, tường hồi bít đốc, kết cấu kiểu chồng rường giá chiêng. Đền có 3 ngày lễ chính tính theo âm lịch: mùng 6 tháng 3 (ngày hóa của Hai Bà), mùng 4 tháng 9 (ngày tế cờ khao quân), 24 tháng 12 (lễ rước mộc dục). Sự tích về Hai Bà Trưng.

HVL3255

 

170. ĐỖ QUỐC BẢO. Hát Môn - Lời thề còn vọng / Đỗ Quốc Bảo // Văn hóa nghệ thuật ăn uống, 2001. - Số 41, tr.11

Hát Môn là một làng Việt cổ nằm ở cửa sông Hát thuộc huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây. Đền Hát Môn được lập ra để thờ Hai Bà Trưng khi hai bà tử trận.

 

171. GIANG QUÂN. Phất cờ nương tử / Giang Quân // Hà Nội mới, 2005. - 10 tháng 3, tr.7

Truyền thuyết về Hai Bà Trưng. Những nơi thờ và tổ chức lễ hội tưởng niệm Hai Bà Trưng ở đồng bằng Bắc Bộ. Nói tới đền Hát Môn (Hà Tây), đền Hạ Lôi (Mê Linh, Vĩnh Phúc), đền Đồng Nhân (phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội).

 

172. Hát Môn (đền) / Nguyễn Văn Tân (biên soạn) // Cẩm nang du lịch văn hóa tâm linh Việt Nam. - H., 2014. - Tr.148-149

Đền ở xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, là một trong ba ngôi đền thờ Hai Bà Trưng lớn nhất và lâu đời nhất ở nước ta. Nguyên xưa, ngôi đền nằm trên bờ cửa sông Hát (một đoạn của sông Đáy), ngày nay vì sông đổi dòng nên đền đã ở sâu vào phía trong. Tương truyền, đây là nơi Hai Bà Trưng lập đàn và mở hội thề năm 40. Đền được xây dựng trên một gò đất cao với bố cục theo kiểu tiền tế chữ Nhất. Lễ hội chính vào ngày mùng 6 tháng Ba (ngày hóa của hai Bà), mùng 4 tháng Chín và 24 tháng Chạp âm lịch.

VV75698 75699

 

173. Hội đền Hai Bà Trưng // Địa chí văn hóa dân gian Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. - H., 1991. - Tr.198-200

Về Hai Bà Trưng, ở Thăng Long - Hà Nội có nhiều nơi thờ phụng nhưng hội chỉ mở ở 3 nơi chính: Đồng Nhân, Hạ Lôi và Hát Môn. Về các nghi lễ và hoạt động chính trong hội đền Đồng Nhân vào mùng 4 - 6 tháng Hai âm lịch; hội đền Hạ Lôi (Mê Linh) vào mùng 6 Tết; hội đền Hát Môn vào mùng 8 tháng Ba (ngày hội quan trọng nhất ở Hát Môn).

HVl 270 271

 

174. Hội Hai Bà Trưng / Lê Trung Vũ (chủ biên), Hoàng Lê, Trần Văn Mỹ... // Lễ hội Thăng Long. - H., 1998. - Tr.83 – 95

Hội Hai Bà Trưng diễn ra ở ba nơi: đền Đồng Nhân (phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng) từ ngày mùng 3 - 5 tháng 2 âm lịch (chính hội mùng 5 tháng 2); đền Hạ Lôi (xã Hạ Lôi, huyện Mê Linh) vào mùng tháng Giêng; đền Hát Môn (xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ) vào mùng 6 tháng 3 (giỗ Vua Bà), mùng 4 tháng 9 (lập đàn thề) và 24 tháng 12 (lễ chiến thắng). Sự tích Hai Bà Trưng và các nghi lễ, hoạt động diễn ra trong từng lễ hội.

HVV2913

 

175. MỸ VĂN. Về Hát Môn nhớ chiến công xưa / Mỹ Văn // Hà Nội mới , 2006. - 6 tháng 3, tr.3

Đền Hát Môn (xã Hát Môn, huyện Phú Thọ, Hà Tây) được xây dựng sau khi Hai Bà hy sinh (năm 43). Hàng năm lễ hội tưởng niệm Hai Bà ở Hát Môn có 3 kì: 4/9 âm lịch là ngày Hai Bà lập đàn thề, làng tổ chức tế cờ khao quân; ngày 24/12 âm lịch, làng làm lễ mộc dục (tắm tượng); từ 5/3 đến 7/3 âm lịch kỉ niệm ngày Hai Bà hy sinh (6/3).

 

176. NGUYỄN HOÀNG. Lễ hội đền Hát Môn / Nguyễn Hoàng // Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam. - H., 2013. - Tr.551-557

Hát Môn (Phúc Thọ, Hà Nội) là một làng cổ nằm ngay cửa sông Hát (tức sông Đáy). Nằm kề chân đê là đền thờ Hai Bà Trưng. Dân làng Hát Môn cử hành tới 3 lễ hội trong một năm vào các ngày: mùng 6 tháng 3, mùng 4 tháng 9, mùng 2 tháng Chạp, trong đó ngày mùng 2 tháng Chạp là lễ hội lớn nhất trong năm. Toàn bộ đồ thờ ở đền Hát Môn đều sơn màu đen, kiêng màu đỏ. Hàng năm, người đến tế lễ cũng như dự hội hè ở Hát Môn đều không được mặc trang phục màu đỏ. Khi đền mở cửa, thắp hương tế lễ vào ngày mùng 6 tháng 3, cả làng cùng làm bánh trôi (còn gọi là bánh tù tì) được nặn theo hình quả trứng để cúng. Bánh được nặn đúng 100 viên rất nhỏ và sau khi tế xong, dân làng đặt 49 viên vào lòng một bông hoa sen thả ra sông Hát để trôi ra biển. Dân làng Hát Môn không bao giờ và không ai dùng bánh trôi trước ngày mùng 6 tháng Ba. Sự tích và truyền thuyết về Hai Bà Trưng.

HVL3456

 

177 NGUYỄN QUANG DŨNG. Về đền Hát Môn / Nguyễn Quang Dũng // Hà Nội mới cuối tuần, 2005. - Số 520, tr.3

Truyền thuyết về Hai Bà Trưng. Lễ hội dâng hương tưởng niệm Hai Bà thường được tổ chức vào ngày 6/3 âm lịch hàng năm tại đền Hát Môn (huyện Phúc Thọ, Hà Tây).

 

178. NGUYỄN VINH PHÚC. Có hai làng Hạ Lôi / Nguyễn Vinh Phúc // Người Hà Nội, 1990. - Số 10, 10 tháng 3. - (Văn vật thủ đô)

Các di tích thuộc về Hai Bà Trưng ở Hà Nội có 3 ngôi đền chính là: đền Hạ Lôi ở huyện Yên Lãng (nay là huyện Mê Linh), đền Hát Môn ở huyện Phúc Thọ và đền Đồng Nhân ở quận Hai Bà Trưng. Ngoài ra có 5 nơi thờ khác trong đó có đền làng Hạ Lôi, Bằng Trù, huyện Thạch Thất.

 

179. NGUYỄN VINH PHÚC. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội. - H. : Nxb.Hà Nội, 1983. - 247tr. ; 19cm

Những nét khái quát về Hà Nội đầu công nguyên: địa lý, chính trị, xã hội. Tiểu sử, gia tộc của Hai Bà Trưng. Diễn biến, nguyên nhân, kết quả của cuộc khởi nghĩa. Giới thiệu những tướng lĩnh của Hai Bà Trưng (xếp theo địa danh: quận, huyện ngày nay); những di tích lịch sử liên quan: đền Hạ Hồi, Đền Đồng Nhân...

HVV703

 

180. PHẠM KIM THANH. Nét đặc sắc của di tích lịch sử - văn hóa và lễ hội Hai Bà Trưng ở Hát Môn / Phạm Kim Thanh // Người Hà Nội, 2013. - Số 13, 29 tháng 3, tr.13

Đền Hát Môn (huyện Phúc Thọ, Hà Nội) là ngôi đền thờ Hai Bà Trưng. Quần thể đền gồm Quán Tiên và các khu đền chính. Tòa Đại Bái năm gian và khu Hậu cung mang kiến trúc thế kỷ XVIII. Lễ hội Hát Môn được tổ chức vào mùng 6/3 (âm lịch) hàng năm với lễ vật là bánh trôi. Ngoài ra vào tháng Chạp, dân Hát Môn tổ chức lễ Mộc Dục để tỏ lòng nhớ ơn Hai Bà Trưng và cầu mong mùa màng tươi tốt. Năm 1964, Đền Hát Môn được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia.

 

181. PHẠM LAN OANH. Lễ hội dân gian làng Hát Môn / Phạm Lan Oanh. - H. : Văn hóa thông tin, 2013. - 165tr. ; 21cm

Giới thiệu lễ hội dân gian làng Hát Môn (Phúc Thọ, Hà Nội); Ngọc phả, truyền thuyết về Hai Bà Trưng; Di tích và lễ hội; Giá trị lễ hội nhìn từ góc độ di tích và nghi lễ thờ phụng.

DM21281

 

182. PHẠM LAN OANH. Tục làm bánh trôi cúng trong lễ hội ở làng Hát Môn / Phạm Lan Oanh // Làng văn hóa cổ truyền Việt Nam .- H., 2013 .- Tr.169-180.

Hát Môn (xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội) là một làng cổ bên cửa sông Hát - một nhánh sông Hồng, nơi gắn liền với cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng cách nay gần 2000 năm. Tại đây có 3 ngày tiệc lớn trong năm gắn với Hai Bà: tiệc mùng 6/3 âm lịch (tương truyền là ngày Hai Bà đánh trận rồi trở về Hát Môn, được bà lão bán quán dâng hai đĩa bánh trôi và hai quả muỗm); tiệc mùng 4/9 (ngày Hai Bà mở tiệc khao quân, dựng cờ khởi nghĩa); tiệc ngày 24/12 (ngày Hai Bà tắm gội để sang Cổ Lôi Trang - Mê Linh làm vua). Trong ba tiệc trên, tiệc ngày 6/3 là to nhất và tục cúng bánh trôi cũng gắn với tiệc này. Vào ngày hôm đó, cả làng Hát Môn làm bánh trôi dâng cúng Hai Bà nhưng bánh dâng cúng tại đền Hát Môn được giao cho các cụ trong ban lễ hội đảm nhiệm và được tiến hành rất cầu kỳ, cẩn trọng.

VL50691

 

183. PHẠM VĨNH. Hội đền Hát Môn / Phạm Vĩnh // Thanh tra, 1998. - 4 tháng 3, tr.6

Đền Hát Môn thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ thờ Hai Bà Trưng. Hội lễ hàng năm diễn ra theo nghi thức do nhà nước quy định.

 

184. PHAN CHÍ ANH. Đền thờ Hai Bà Trưng bên dòng sông Hát / Phan Chí Anh // Truyền hình, 1999. - Số 40, 30 tháng 9, tr.11

Có nhiều nơi lập đền thờ Hai Bà Trưng và đền thờ ở xã Hát Môn (Phúc Thọ) là một trong những nơi được nhiều du khách biết tới.

 

185. Sơn Tây tỉnh Phúc Thọ huyện Phù Long tổng Hát Môn xã thần sắc : Sách viết tay, chữ Hán. - 24tr. ; 32x22cm

Thần sắc xã Hát Môn, tổng Phù Long, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây, phong cấp vào các năm Cảnh Hưng (5 đạo), Chiêu Thống (2 đạo), Quang Trung (2 đạo), Cảnh Thịnh (2 đạo). Phong cho Dực Thiên Chế Thắng Bảo Tín... Phu nhân.

AD.A10/4 (VNCHN)

 

186. TRẦN THÁI BÌNH. Bài văn bia đền Hát Môn / Trần Thái Bình // Xưa & Nay, 2004. - Số 207, tr.33-34.

 

187. TÙNG LÂM. Đền Hát Môn / Tùng Lâm // Du lịch, 2007. - 25 tháng 7, tr.9

Đền Hát Môn (huyện Phúc Thọ, Hà Nội) thờ Hai Bà Trưng. Đền được xây dựng theo lối kiến trúc kiểu tiền tế chữ "Nhất". Bài vị, hương án mang đậm tính nghệ thuật chạm khắc đời Lê. Năm 1991, đền được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa.

 

2.7. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Đền Phù Đổng

188. Bắc Ninh tự miếu văn bia : Ghi các bản văn bia, di tích, chủ yếu nói về Bắc Ninh cũ

Văn bia Thánh Gióng đánh giặc Ân và các di tích lịch sử như sự tích đền Phù Đổng, miếu An Dương Vương, các vị thần giúp Thánh Gióng... Những phần này có liên quan nhiều tới Thăng Long.

A277 (VTTKHXH)

 

189. BÙI CHÍ BỀN. Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc / Bùi Chí Bền, Lê Thị Hoài Phương, Bùi Quang Thanh; Nguyễn Thị Kim Măng, Phạm Minh Đức, Trương Thị Thủy: dịch. - H. : Thế giới, 2010. - 710tr. ; 21cm

Giới thiệu về truyền thuyết Thánh Gióng, khu di tích đền Sóc và diễn trình lễ hội Gióng ở Sóc Sơn trong các ngày mùng 6, mùng 7 và mùng 8 tháng Giêng hàng năm.

VV11.00195 11.00196(TVQG)

 

190. BÙI ĐẮC NGÔN. Hội Gióng / Bùi Đắc Ngôn // Người Hà Nội, 2005. - Số 19, tr.2

Lễ hội Gióng (xã Phù Đổng, Gia Lâm) là một lễ hội có sức thu hút riêng. Những nét đặc sắc của lễ hội.

 

191. BÙI QUANG THANH. Hội Gióng đền Phù Đổng / Bùi Quang Thanh // Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam. - H., 2013. - Tr.648-677

Làng Phù Đổng (huyện Gia Lâm, Hà Nội) tương truyền là nơi Thánh Gióng sinh ra. Tại đây, hiện có quần thể di tích phụng thờ Thánh Gióng là: đền Thượng, đền Hạ (còn gọi là đền Mẫu), miếu Ban, chùa Kiến Sơ, Cố Viên, Giá Ngự, đình Hạ Mã. Hội Gióng Phù Đổng khi được tổ chức theo hình thức quy mô nhất thường tiến hành qua 3 giai đoạn: cuối tháng Hai đến đầu tháng Ba âm lịch (họp bàn công việc chuẩn bị lễ hội); từ ngày Rằm tháng Ba đến mùng 6 tháng Tư âm lịch (nhận đồ hội, trang phục, diễn tập các vai diễn và nghi thức trong lễ hội); từ mùng 7 đến mùng 9 tháng Tư âm lịch (lễ hội chính thức). Trong tổng số khoảng chục nghìn lễ hội diễn ra trên phạm vi cả nước, lễ hội Phù Đổng là lễ hội có quy mô hoành tráng nhất, được chuẩn bị công phu nhất. Truyền thuyết Thánh Gióng, quy định về các vai diễn trong lễ hội, trình tự các hoạt động diễn ra trong lễ hội.

HVL3456

 

192. DIÊN KHẢI. Lễ hội Thánh Gióng làng Phù Đổng 2012: Thánh thiêng ở lòng dân / Diên Khải // Phụ nữ thủ đô, 2012. - Số 18, 2 tháng 5, tr.2

Lễ hội Thánh Gióng xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội diễn ra vào ngày 9 tháng 4 âm lịch hàng năm thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Lễ hội mô phỏng sinh động diễn biến những trận đánh của Thánh Gióng, mang đậm sắc thái của các bộ lạc cổ xưa thông qua những màn diễn xướng của người dân địa phương. Tham gia phục vụ lễ hội có ông Hiệu cờ, Hiệu chiêng, Hiệu trống, Hiệu trung quân và Hiệu tiểu cổ được chọn từ thanh niên của làng. Giá trị nổi bật mang tính toàn cầu của lễ hội Gióng chính là hiện tượng văn hoá này đã được bảo lưu, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác một cách liên tục và toàn vẹn không bị nhà nước hoá hay thương mại hoá như các lễ hội khác.

 

193. ĐỖ QUỐC BẢO. Cùng về hội Gióng mồng 9 tháng 4 / Đỗ Quốc Bảo // Toàn cảnh - Sự kiện - Dư luận, 2002. - Số 141, tr.44

Hội Gióng, làng Gióng (Gia Lâm) tổ chức vào ngày 9/4 âm lịch với màn múa diễn ra trong khoảng không gian rộng hàng ngàn mét với sự tham gia khoảng hơn trăm người thể hiện trình độ cao và toàn diện về nghệ thuật sân khấu.

 

194. Đổng Thiên Vương thần tích : Sách chữ Hán. - 32tr. ; 26x18cm

Sách kể sự tích của Phù Đổng Thiên Vương. Các mẫu văn tế và nghi thức cúng lễ ở đền Phù Đồng (ngoại thành Hà Nội).

A.2661 (VNCHN)

 

195. ĐỨC HẠNH. Kiến trúc, điêu khắc trang trí tại đền Phù Đổng / Đức Hạnh // Di tích Việt Nam, 2006. - Số 24, tháng 9, tr.56-59

 

196. ĐỨC HUY. Về thăm đền Phù Đổng Thiên Vương / Đức Huy // Lao động Thủ đô cuối tuần, 2012. - Số 141, 23 tháng 11, tr.13

Đền Phù Đổng Thiên Vương thờ đức Thánh Gióng, một trong "tứ bất tử" của tín ngưỡng Việt Nam. Đền có 2 đền chính là đền Thượng và đền Hạ. Đền Thượng thờ Thánh Gióng được vua Lý Thái Tổ cho dựng trên nền nhà cũ của Gióng ngay khi dời đô ra Thăng Long (1010). Kiến trúc đền được xây dựng từ thế kỷ XI thời Lý. Đền có nhà thuỷ đình, nội điện, trung đường, nhà tiền tế, nhà vuông. Đền Hạ thờ mẹ Thánh Gióng xây 1693. Hội đền Gióng là một trong những lễ hội lớn nhất vùng Bắc Bộ, bắt đầu từ ngày 1 đến 9/4 Âm lịch, ngày mồng 8 là hội chính. Đây là điểm du lịch hấp dẫn với du khách mọi miền đất nước.

 

197. GIA HUY. Lễ hội "Độc nhất vô nhị" ở Việt Nam / Hà Châu, Gia Huy // Người Hà Nội, 2011. - Số 19, 6 tháng 5, tr.16

Lễ hội làng Gióng diễn ra từ ngày 7-9/4 âm lịch tại làng Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội. Hai xã Phù Đổng và Phù Dục được luân phiên cử chủ toạ đám hội, hai xã Đống Xuyên và Đống Viên chỉ đóng vai phụ tá trong đám hội. Để diễn lại trận chiến chống giặc Ân năm xưa việc sửa soạn từ ngày mồng 6/4, cuộc diễn trận chính thức vào trưa 9/4, có lễ tế cờ tại đền, có cả mổ trâu, giết bò. Hội trận mô tả lại cảnh Thánh Gióng đánh giặc tại cánh đồng rộng (khoảng 3km) gọi là Soi Bia. Sau ngày diễn trận làng tổng lại tổ chức rước để rửa lại khí giới, đồ thờ đã được dùng trong chiến trận. Có nhiều trò vui cho khách trẩy hội thưởng thức: Đánh vật, hát chèo và có cô đầu hát thờ.

 

198. Hội Gióng / Lưu Minh Trị (chủ biên), Vũ Khiêu, Lê Văn Lan... //Tìm trong di sản văn hóa Việt Nam, Thăng Long - Hà Nội. - H., 2002. - Tr.669-670

Hội Gióng là một hội lớn ở đồng bằng Bắc Bộ, diễn lại sự tích Thánh Gióng đánh thắng quân xâm lược. Đời Lý, vua Lý Thái Tổ cho dân Phù Đổng (quê mẹ và là nơi sinh của Thánh Gióng) lập đền thờ Thánh Gióng và cho mở hội để nhắc nhở chiến công xưa vào ngày mùng 9 tháng 4 âm lịch. Nguyên tổng Phù Đổng có 4 làng: Phù Đổng, Phù Dược, Đổng Viên, Đổng Xuyên thì 4 làng cùng tổ chức hội. Các nghi lễ và trò chơi truyền thống trong lễ hội.

HVL1749

 

199. Hội Gióng / Hà Nguyễn // Lễ hội Hà Nôi. - H., 2010. - Tr.10-19

Hội Gióng được tổ chức ở làng Gióng (xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội), quê hương của Thánh Gióng. Hội Gióng được tổ chức theo kịch bản truyền thống, được chuẩn bị và dàn dựng công phu với sự tham gia của đông đảo nhân dân. Tham gia hội Gióng có 5 làng là Phù Đổng, Phù Dục, Đổng Viên ở bờ Bắc sông Đuống và Đổng Viên, Hội Xá ở bờ nam sông Đuống. Lễ hội chính thức diễn ra từ mùng 6 đến 12 tháng Tư âm lịch nhưng các công việc chuẩn bị đã diễn ra từ mùng 1 tháng Ba âm lịch. Trung tâm của lễ hội là nghi thức tái hiện lại chiến công của Thánh Gióng đánh giặc Ân theo truyền thuyết. Các nghi thức và hoạt động diễn ra trong lễ hội.

HVL3404

 

200. HUYỀN MINH. Đề cử Hội Gióng là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại // Truyền hình Hà Nội, 2009. - Số 63, tháng 10, tr.22

Hội Gióng được tổ chức ở làng Phù Đổng (Gia Lâm), Hội Gióng Chi Nam (xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm), Hội Gióng Xuân Đỉnh (xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm), Hội Gióng Sóc Sơn (xã Phù Linh, Sóc Sơn), Hội Gióng Bộ Đầu (xã Bộ Đầu, huyện Thường Tín) nhưng Hội Gióng ở làng Phù Đổng là lớn nhất, diễn lại sự tích Thánh Gióng đánh giặc Ân, hội diễn ra từ 6-12/4 âm lịch.

 

201. Khu di tích Phù Đổng / Lưu Minh Trị (chủ biên), Vũ Khiêu, Lê Văn Lan... // Tìm trong di sản văn hóa Việt Nam, Thăng Long - Hà Nội. - H., 2002. - Tr.202-203

Khu di tích Phù Đổng thuộc xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Đây là quê hương của Thánh Gióng. Khu di tích gồm: đền Thượng (đền chính, thờ Thánh Gióng), đền Hạ (thờ mẹ), miếu Ban (nơi sinh Thánh), Cố Viên (vườn cũ) và một số di tích khác. Trong khu di tích còn có chùa Kiến Sơ là di tích Phật giáo ghi nhận sự phát triển Phật giáo nước ta từ sớm. Chính hội của nơi đây là ngày mùng 9 tháng 4 âm lịch.

HVL1749

 

202. LÊ TRUNG VŨ. Hội Gióng Phù Đổng / Lê Trung Vũ (chủ biên), Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Thanh Hương, Trần Văn My... // Lễ hội Thăng Long. - H., 2001. - 670tr.; 19cm

Hội Gióng Phù Đổng được tổ chức hàng năm tại xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Đây là một hội làng mang tính hoàn chỉnh, mẫu mực trên nhiều bình diện: truyền thuyết, ý thức, tổ chức và nghệ thuật biểu hiện. Theo hội lệ trong hương ước của làng Phù Đổng xưa, hội do 5 làng gồm 19 giáp lo liệu. Đó là làng Phù Đổng (6 giáp), Phù Dực (4 giáp), Đổng Xuyên (2 giáp), Đổng Vân (3 giáp), Hội Xá (3 giáp). Mỗi năm một giáp được cử làm chủ tọa hội, gọi là "giáp kéo hội", nhưng chỉ hai làng Phù Đổng và Phù Dực được cử chủ tọa (lo mọi việc về lễ hội). Truyền thuyết về Thánh Gióng và nhiệm vụ chuẩn bị cho lễ hội trong từng giai đoạn, các nghi thức diễn ra trong chính hội (mùng 9 tháng Tư âm lịch).

HVV3508

 

203. LINH ANH. Di dời hiện vật bạc tỷ ở đền Phù Đổng: Không dễ tìm được sự đồng thuận / Linh Anh // Kinh tế & Đô thị, 2014. - Số 164, 27 tháng 7, tr. 8

Thực trạng vấn đề di dời ngựa sắt, hiện vật được đúc bằng bạc tỷ vẫn tồn tại không phép ở đền Phù Đổng. Nhiều ý kiến trái chiều về hiện vật này. Cơ quan quản lý văn hoá đến nay vẫn chưa có phương án giải quyết phù hợp. Do vậy ngựa sắt vẫn ở trong thế di dời không được mà ở cũng chẳng xong.

 

204. LINH ANH. Tiếp nhận hiện vật sai quy định tại đền Phù Đổng: Kiên quyết di dời ra khỏi di tích / Linh Anh // Kinh tế & Đô thị, 2014

Ngay sau khi có thông tin di tích cấp quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng (Gia Lâm, Hà Nội) tiếp nhận đồ cung tiến (ngựa, áo giáp và roi sắt) sai quy định, ngày 3/3, Sở VHTT&DL Hà Nội và UBND huyện Gia Lâm đã tiến hành kiểm tra thực trạng và đưa ra phương hướng khắc phục, kiên quyết di dời hiện vật trên ra khỏi di tích.

 

205. MINH NGỌC. Hội Gióng trở thành di sản nhân loại / Minh Ngọc // Thanh niên, 2010. - Số 322, 18 tháng 11, tr.15

Hội Gióng diễn ra vào ngày 9-10/4 (âm lịch) hàng năm tại đền Phù Đổng đền Sóc Sơn và nhiều vùng lân cận ở Hà Nội. Hội Gióng được đánh giá như một bảo tàng văn hoá sống, lưu giữ nhiều lớp văn hoá tín ngưỡng. Lễ hội này có bốn điểm đặc sắc và độc đáo không chỉ mang tính dân tộc mà còn mang tính nhân loại. Hội Gióng ở đền Phù Đổng và Đền Sóc đã được công nhận là Di sản Văn hoá Phi vật thể đại diện của nhân loại vào ngày 16/11/2010 tại Naiobi (Kenya).

 

206. NGUYỄN DOÃN MINH. Từ những pho tượng "Phỗng" trong vài di tích ở Hà Nội / Nguyễn Doãn Minh // Thăng Long - Hà Nội ngàn năm, 2006. - Số 33, tr. 27+29

Những pho tượng quí, đặt đăng đối trước ban thờ trong một số di tích (đền Bạch Mã, đình Đông Ngạn, đền Phù Đổng) còn được gọi là Phỗng. Tác giả đưa ra ý kiến giải thích khác nhau về các pho tượng đó.

 

207. NGUYỄN QUANG DŨNG. Hội Gióng làng Phù Đổng / Nguyễn Quang Dũng // Hà Nội mới, 2002. - 8 tháng 6, tr.3

Lịch sử của hội Gióng, nội dung lễ hội.

 

208. NGUYỄN VĂN HUYÊN. Hội Phù Đổng / Nguyễn Văn Huyên // Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam. - H., 2000. - Tr.793-805.

Hội Phù Đổng được tổ chức vào ngày mùng 9 tháng Tư âm lịch là một trong những lễ hội kỳ thú nhất. Lễ hội được tổ chức ngay trên mảnh đất đã sinh ra Phù Đổng Thiên vương để kỷ niệm sự kiện đánh thắng giặc Ân. Cả 4 làng trong tổng Phù Đổng là Phù Đổng, Phù Dực, Đổng Viên, Đổng Xuyên đều tham gia chuẩn bị vào lễ diễn lại trận đánh, trong đó hai làng trên luân phiên giữ vai chủ hội, hai làng dưới đảm nhận vai thám báo, cung cấp cho đội quân nước Văn Lang. Khảo về về việc phân công, các đợt chuẩn bị và chính cuộc chiến đấu được diễn ra trong lễ hội.

HVL1827

 

209. PHỔ MINH. Phù Đổng Thiên Vương một cõi uy linh / Phổ Minh, Kinh Bắc // Phụ nữ thủ đô, 2010

Bài 2: "Vũ trụ thiêng" trong Hội Gióng. - Số 33, 18 tháng 8, tr.9

Quy mô hoành tráng và nghi thức tôn thờ "Vũ trụ thiêng" trong lễ hội Gióng.

 

210. PHÚC NGHI. Khẳng định sức sống của hội Gióng / Phúc Nghi // Văn hóa, 2010. - Số 1834, 21 tháng 4, tr.16

Được tổ chức hàng năm tại đền Phù Đổng (xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội) và được UNESCO vinh danh, hội Gióng được đánh giá cao về những giá trị văn hoá, lịch sử, là nơi người dân các thế hệ ký thác những ước mơ về một cuộc sống an lành, no đủ. Hội Gióng là niềm tự hào của người dân địa phương nơi đây

 

211. PHƯƠNG ANH. Hội Gióng di sản văn hoá nhân loại / Phương Anh // Văn hiến Việt Nam, 2010. - Số 11, tr.10+13.

Tối 16/11, tại thủ đô Nairobi của Kenya, UNESCO đã Chính thức công nhận hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc của Việt Nam là di sản Văn hoá nhân loại. Năm 2010, Hà Nội có 3 di sản được UNESCO vinh danh là 82 bia Tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc.

 

212. Thánh Gióng. - H. : Văn hoá, 1993. - 613tr. ; 19cm

Thánh Gióng là nhân vật huyền thoại được truyền tụng rộng rãi trong dân gian. Ông ra đời trong một gia đình ở hương Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội. Ông là biểu tượng sức mạnh vượt bậc của dân tộc, chiến thắng ngoại xâm bảo vệ độc lập. Ông là một trong bốn vị Thánh bất tử ở Việt Nam. Hội Gióng hàng năm là một lễ hội lớn có ý nghĩa trong đời sống văn hoá dân tộc ta.

HVV 1361

 

213. THU NGÂN. Đề cử Lễ hội Gióng là di sản văn hoá / Thu Ngân // An ninh Thủ đô cuối tuần, 2009. - Số 243, 9 tháng 8, tr.10

Lễ hội Gióng là lễ hội lớn nhất Đồng bằng Bắc Bộ, diễn ra từ 6/4 đến 12/4 âm lịch tại một không gian rộng lớn dài 3 km gồm đền Thượng, đền Mẫu (thờ mẹ Gióng) và chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội. Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng vừa đồng ý để UBND thành phố Hà Nội lập hồ sơ "Lễ hội Gióng" trình tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của Việt Nam.

 

214. TRẦN HÀNH. Hội Gióng / Trần Hành // Hà Nội mới, 1992. - 7 tháng 6. - (Đất lề quê thói)

Hội Gióng là một nghi thức thờ cúng anh hùng dân tộc, có những nội dung độc đáo mà những lễ hội khác không có.

 

215 TRẦN HÀNH. Hội Gióng và những nét văn hoá đặc sắc / Trần Hành // Người Hà Nội, 2007. - Số 21, tháng 5, tr.2

Hội diễn ra tại làng Phù Đổng - Gia Lâm - Hà Nội vào ngày 9/4 âm lịch. Đây là quê hương của Thánh Gióng với những chứng tích như thật: vườn cà (nơi ở), miếu Bạc (nơi sinh với chiếc liềm đá) và những đền Thượng, đền Hạ thờ ngài và thân mẫu, chùa Kiến Sơ cổ kính nổi tiếng và rất đẹp tiếp giáp ngay cạnh.

 

216. TRẦN QUỐC VƯỢNG. Hội Dóng và tục sùng bái anh hùng / Trần Quốc Vượng, Lê Văn Hảo, Dương Tất Từ // Mùa xuân và phong tục Việt nam. - H., 1976. - Tr.255-263

Hội Dóng (Gióng) là một trong những hội hè cổ nhất. Hội Dóng không còn là sinh hoạt văn hóa của riêng một địa hương nữa mà là của cả vùng trung châu rộng lớn. Ngày hội của làng Dóng là để kỷ niệm một trong những anh hùng đầu tiên của bộ lạc Vũ Ninh và của nước Văn Lang thời các vua Hùng. Hàng năm, 15 giáp của 4 làng ở tổng Phù Đổng (trong đó có làng Dóng) cùng nhau tổ chức hội Dóng. Ngày hội chính kéo dài từ mùng 6 đến 12 tháng Tư âm lịch. Sự tích Thánh Gióng và các nghi lễ, hoạt động diễn ra trong lễ hội.

HVV1851

 

217. TRIỆU CHINH HIỂU. Đền Phù Đổng và lễ hội Gióng / Triệu Chinh Hiểu // Truyền hình Hà Nội, 2014. - Số 113, tháng 3, tr.48+49

Đền Phù Đổng (xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội) thờ Thánh Gióng tọa lạc trên khu đất rộng hơn hai mẫu, bao gồm thuỷ đình, ngũ môn, phương đình, tiền tế và hậu cung. Đền còn lưu trữ 21 đạo sắc phong cùng nhiều hiện vật có giá trị như: ngai thờ thế kỷ XVII, bình hương, nghê đồng, hai thanh kiếm, bia đá, câu đối... Hội Gióng bắt đầu từ ngày 6 tháng 4 âm lịch hằng năm bằng rước lễ; ngày mùng 8 duyệt 28 nữ tướng; ngày mùng 9 là chính hội. Lễ hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc (huyện Sóc Sơn) được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể vào ngày 16/11/2010.

 

218. TRIỆU CHINH HIỂU. Quê hương Thánh Gióng / Triệu Chinh Hiểu // Kinh tế & Đô thị, 2010. - Số 95, 27 tháng 5, tr.8

Đền Gióng còn gọi là Đền Thượng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Đền còn lưu giữ được nhiều kiến trúc của thời Lê Trung Hưng. Vào tháng 4 âm lịch, lễ hội Gióng luôn làm nức lòng khách thập phương. Di tích thứ hai là đền Mẫu (còn gọi là đền Hạ) thờ mẹ của thánh Gióng được xây 1693. Di tích thứ ba là miếu Ban cũng thờ mẹ Thánh Gióng, ở nơi sinh ra Thánh Gióng. Bên cạnh đó có chùa Kiến Sơ được xây dựng vào thế kỷ IX - là ngôi chùa cổ nhất nước ta. Cuối năm 2009, lễ hội Gióng đã được lập hồ sơ trình UNESCO xem xét công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể.

 

219. VĂN HỌC. "Ao rối" và "Nhà thủy đình" đền Phù Đổng / Văn Học // Văn hiến Việt Nam, 2002. - Số 10, tr.32-33

 

220. VÂN QUẾ. Lễ hội Gióng kết tinh giá trị nghìn đời / Vân Quế // An ninh Thủ đô, 2010. - Số 3077, 18 tháng 11, tr.11

Những giá trị độc đáo, nguyên vẹn, của lễ hội Gióng làng Phù Đổng (Gia Lâm) nơi đức thánh giáng sinh và làng Phù Linh (Sóc Sơn, nơi Đức Thánh Gióng hoá. Các vấn đề bảo tồn đặt ra đối với các nhà quản lý văn hoá.

 

221. VÕ VĂN TRỰC. Đền Gióng / Võ Văn Trực // Lao động Hà Nội, 1993. - Số 16

Đền Gióng ở xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội.

 

222. VŨ NGỌC KHÁNH. Hội Gióng / Vũ Ngọc Khánh // Hành trình vào thế giới folklore Việt Nam. - H., 2005. - Tr.443-452

 

2.8. Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Hồ Hoàn Kiếm và Đền Ngọc Sơn

223. BÙI HUY HỒNG. Bài minh trên nghiên đá ở hồ Hoàn Kiếm / Bùi Huy Hồng // Hà Nội mới, 1979. - 21 tháng 1

 

224. Đền Ngọc Sơn / Hoàng Khôi (giới thiệu, tuyển chọn) // 36 linh tích Thăng Long Hà Nội. - H. , 2010. - Tr.95-100

Đảo Ngọc Sơn xưa được gọi là Tượng Nhĩ (tai voi), khi Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long đặt tên là núi Ngọc Tượng, đến đời Trần gọi là Ngọc Sơn. Sơ lược quá trình phát triển của đền, các công trình kiến trúc tiêu biểu (đình Trấn Ba, tháp Bút, cầu Thê Húc), tượng thờ trong đền.

HVL2817

 

225. Đền Ngọc Sơn / Lam Khê, Khánh Minh (biên soạn) // Danh lam thắng cảnh Hà Nội. - H., 2010. - Tr.39-41

Sơ lược về núi Độc Tôn, tháp Bút, cầu Thê Húc, đình Trấn Ba và lịch sử xây dựng đền Ngọc Sơn (thuộc đảo Ngọc, hồ Hoàn Kiếm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội).

HVL3062

 

226. Đền Ngọc Sơn / Lưu Minh Trị (chủ biên), Vũ Khiêu, Lê Văn Lan... // Tìm trong di sản văn hóa Việt Nam, Thăng Long - Hà Nội. - H., 2002. - Tr.151-152

Đền Ngọc Sơn xây dựng trên đảo Ngọc thuộc hồ Hoàn Kiếm. Đền là bảo tàng thu nhỏ lưu giữ nhiều hiện vật quý hiếm của các thời kỳ lịch sử khác nhau. Đền được Bộ Văn hóa thông tin ra quyết định xếp hạng từ năm 1980. Sơ lược lịch sử xây dựng và tu bổ đền Ngọc Sơn.

HVL1749

 

227. ĐINH TÚ. Khu di tích lịch sử đền Ngọc Sơn / Đinh Tú // Người Hà Nội, 1991. - Số 1, 6 tháng 1.

Khu di tích có hồ Gươm, truyền thuyết anh hùng dân tộc Lê Lợi trả lại gươm cho trời, đền Ngọc Sơn ở trên đảo Ngọc trong hồ Tảo vọng (những thay đổi và sửa chữa chùa trong thời gian 1802-1882. Trong khu vực đền có những di tích đáng chú ý như tháp Bút, đài Nghiên, cầu Thê húc, đình Trấn Ba, bia "Ngọc Sơn đế quân từ ký".

 

228. BILLOTEY, PIERRE. L'Indochine en zigzago / Pierre Billotey. - Paris : Albin Michel, 1929. - 252p

Trong phần viết về Hà Nội, tác giả nói tới Hồ Gươm và phố xá lân cận (tr.49-56), đền Hai Bà Trưng (tr.61-72), đền Trấn Võ và Văn Miếu (tr.72-75).

 

229. DUMOUTIER, G.. Le lac de l'épée et la montague de jade / G. Dumoutier. - Avenir du Tonkin, 1887. - No. 64,p. 5

Tác giả kể về Hồ Gươm theo hai thuyết. Thuyết thứ nhất theo "Hoàng Việt địa dư chí" thì Lê Thái Tổ đi chơi thuyền thấy một con rùa lớn nổi lên và tiến về phía mình, vua hoảng sợ lấy kiếm ra đuổi thì rùa cướp mất kiếm và biến đi. Truyền thuyết thứ hai kể năm 1418 Lê Lợi là quan bị thải hồi về làm nghề đánh cá trên hồ và lấy được một thanh bảo kiếm, ông đứng lên khởi nghĩa giành lại độc lập (1418 - 1428) rồi đến lễ tạ thần rùa. Phần tiếp theo tác giả tả quang cảnh Hồ Gươm và đền Ngọc Sơn, nói đến tấm bia đá ghi sự tích đền những người góp tiền dựng đền.

VTTKHXH 40932

 

230. Hồ Gươm - Hà Nội - Việt Nam / Hoàng Kim Đáng: chủ biên. - H. : Văn hóa Thông tin, 2000. - 286tr. ; 25cm

HVL967

 

231. Hồ Hoàn Kiếm / Lam Khê, Khánh Minh (sưu tầm, biên soạn) // Danh lam thắng cảnh Hà Nội. - H., 2010. - Tr.130-132

Hồ Hoàn Kiếm (hồ Gươm) được mang khá nhiều tên: Lục Thuỷ, Tả Vọng, Hữu Vọng, Thủy Quân. Tương truyền vào thế kỷ XV hồ được đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm, gắn liền với truyền thuyết trả gươm thần cho Rùa Vàng. Hồ Gươm là một phần không thể thiếu của Hà Nội ngàn năm, được ví như trái tim của Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.

HVL3062

 

232. Hồ Hoàn Kiếm / Lưu Minh Trị (chủ biên), Đào Đình Bắc, Nguyễn Thị Dơn... // Hà Nội danh thắng và di tích. - H. ; 24cm

T.1. -2011. - Tr.102-103

Hồ Hoàn Kiếm với đền Ngọc Sơn nối với phố Hàng Đào, Hàng Ngang... trong khu phố cổ là điểm gốc cho du khách đến thăm Thủ đô. Truyền thuyết Lê Lợi trả gươm thần ở hồ, một số kiến trúc trong đền Ngọc Sơn.

HVL3155

 

233. NGUYỄN NGỌC TIẾN. 5678 bước chân quanh Hồ Gươm / Nguyễn Ngọc Tiến. - H : Văn học, 2008. - 334tr. ; 21cm

Một số chuyện vụn vặt về Hồ Hoàn Kiếm, bắt đầu từ tượng Lý Thái Tổ - vị vua có công sáng lập Thăng Long đến đền Ngọc Sơn.

HVL2316 2317

 

234. Không gian lịch sử văn hoá Hồ Gươm: các dự án cứ đùa tạo hoá // An ninh Thủ đô, 2002. - Số 845, tr.8

Những dự án không đúng làm ảnh hưởng đến không gian lịch sử của Hồ Gươm: thay nước hồ, thả sen, kè gò rùa, xây dựng các toà nhà cao tầng... và hiện nay là xây dựng một nhà vệ sinh ngầm ở ven hồ.

 

235. Kiếm Hồ thập vịnh : Sách viết tay chứ Hán. - 46tr. ; 30x20

Gồm 9 bài thơ. Sau thơ là tập "Đô Thành thập bát vịnh tập", "Giang Đình thập nhị vịnh". Cuối tập có bài: Lý Thăng hoài cổ (Thành Long biên). Phụ chép bài: "Trường An lâm cổ cảm ký".

HHN292

 

236. LAUMONLER, HENRI. Contes et croquis tonkinois / Henri Laumonler. - H. : IDEO, 1909. - 139p

Tác giả tả cảnh Hồ Gươm và nói lên suy nghĩ của mình khi dạo quanh hồ.

 

237. Le roi Lê Lợi et les légendes du Petit lac de Hanoi. Pourquoi le Petit lac de Hanoi est-il appelé lac de l'épée restituée. - Indichine, 1942. - 3 Sept, No. 105

Bài trình bày hai thuyết do tác giả kể: Theo Dumoutier thì Lê Lợi đánh cá, kéo lưới được kiếm vàng liền mưu đồ khởi nghĩa, sau khi chiến thắng đến thăm hồ thì kiếm tự nhiên ra khỏi vỏ và biến thành rồng lao xuống hồ. Theo cuốn "Chéon", khi Lê Lợi đã làm vua đang câu cá trên hồ thì thấy rùa xuất hiện bèn rút kiếm vàng ra ném rùa lặn xuống rồi ngậm kiếm lên trả vua.

VTTKHXH 402246(9)

 

238. LÊ ANH. Giữ lấy cảnh đẹp Hồ Gươm / Lê Anh // Hà Nội mới, 1994. - 4 tháng 4

Nếp sống văn hoá đang bị vi phạm ở một nơi danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Hà Nội và cả nước.

 

239. NGUYỄN BÁ CHÍ. Đền Ngọc Sơn / Nguyễn Bá Chí. - H.. - 4tr. ; 25cm HVL398

 

240. NGUYỄN NGỌC TIẾN. Những câu chuyện về cầu Thê Húc / Nguyễn Ngọc Tiến // Hà Nội mới, 2012. - 8 tháng 7, tr.8

Cầu Thê Húc (có nghĩa Giọt ánh sáng đậu lại) được làm vào năm 1865 do nhà thơ, nhà văn hoá của Hà Nội - Nguyễn Văn Siêu đứng ra cải tạo nâng cấp đền Ngọc Sơn và cho làm cầu bắc từ hồ ra đền. Cầu gồm 15 nhịp, 32 chân cột gỗ tròn xếp thành 16 đôi, mặt cầu lát ván gỗ và sơn màu đỏ thẫm, chữ Thê Húc thếp vàng. Cuối đông 1887, cầu Thê Húc bị đốt để phản đối việc quân Pháp đóng ở đền Ngọc Sơn xúc phạm nơi tôn nghiêm của văn hoá Hà Nội. Cầu được trùng tu năm 1888 và cầu gỗ cũng sơn màu đỏ có dáng uốn cong như cầu vồng, cong hơn cầu Thê Húc cũ để chịu lực tốt hơn. Tết Nhâm Thìn (1952) cầu bị sập vì người đi lễ đền quá đông, Thị trưởng Hà Nội Thẩm Hoàng Tín đã cho phá bỏ cầu cũ, xây cầu mới và bản thiết kế của kỹ sư Nguyễn Ngọc Diên (1908-1999) được chọn. Cầu giữ nguyên 16 cọc tròn, các đầu trụ được vót nhọn, dầm ngang, dầm dọc đúc bằng bê tông, mặt và thành cầu vẫn giữ nguyên dáng cong nhưng cong hơn và nổi hơn cầu cũ. Cầu Thê Húc được coi là trang sức quý giá của Hồ Gươm.

 

241. NGUYỄN VĂN UẨN. Hồ Gươm / Nguyễn Văn Uẩn // Người Hà Nội, 1990. - Số 93, tháng 3. - (Chuyện cũ Hà Nội)

Những thay đổi lịch sử của Hồ Gươm từ chế độ phong kiến sang thuộc địa nửa phong kiến.

 

242. NGUYỄN VINH PHÚC. Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn / Nguyễn Vinh Phúc. - H., 2009. - 243tr. ; 20,5cm

Về lịch sử và những câu chuyện liên quan đến hồ Hoàn Kiếm, đền Ngọc Sơn cùng các di tích quanh hồ.

HVL2526

 

243. NGUYỄN VINH PHÚC. Nguyễn Văn Siêu và Tháp Bút, Đài Nghiên / Nguyễn Vinh Phúc // Hà Nội ngàn năm, 2007. - Số 46, tháng 7, tr.16+17

Nguyễn Văn Siêu (1799-1872) người làng Kim Lũ nay là Đại Kim, Hoàng Mai, Hà Nội. Ông không những là nhà văn, nhà thơ nổi tiếng mà còn là nhà nghiên cứu nghiêm túc với các tác phẩm như: Phương Đinh dư địa chí, Chư kinh khảo ước... Riêng với Hà Nội, công tích lớn nhất của Thần Siêu là đã tu bổ khu đền Ngọc Sơn thành một danh thắng. Nguyên đền này vào đầu thế kỷ 19 chỉ là một miếu nhỏ thờ Quan Vũ - vị thần tượng trưng cho trung tín lễ nghĩa. Ông Tín Trai mới sửa sang thành chùa. Năm 1840, Vũ Tông Phan và bạn bè sửa lại thành đền, thờ thêm Văn Xương - vị thần tượng trưng cho văn chương thi cử và đỗ đạt. Đến năm 1862-1863, Nguyễn Văn Siêu đã tu sửa lại đền, ngoài việc làm lại 3 nếp nhà chính, ông Siêu còn cho xây dựng thêm Tháp Bút, Đài Nghiên, Cầu Thê Húc và Trấn Ba Đình.

 

244. PHẠM ĐỨC HUÂN. Về 3 chữ "Tả thanh thiên" trên tháp Bút đền Ngọc Sơn Hà Nội / Phạm Đức Huân. - Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, 2007. - Số 5, tr.21-22

 

245. PHAN QUẾ. Vẻ đẹp tri thức của Hà Thành / Phan Quế // An ninh Thủ đô, 2004. - Số 1359, 15 tháng 11, tr.10

Về Tháp Bút - Đài Nghiên của Hà Nội.

 

246. QUANG PHÙNG. Dạo quanh Hồ Gươm / Quang Phùng. - H. : Văn hoá - Thông tin, 2011. - 119tr. ; 28cm

Giới thiệu những bức ảnh tiêu biểu có giá trị nghệ thuật của nhà nhiếp ảnh Quang Phùng về hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận.

HVL3373

 

247. SƠN VÂN. Cổ tích và thắng cảnh thủ đô / Sơn Vân // Thủ đô, 1958. - 9 tháng 8

Về một số thắng cảnh nổi tiếng của Hà Nội, trong đó có đền Ngọc Sơn và hồ Hoàn Kiếm.

 

248. Tháp Rùa : Đài và tháp rùa, chi tiết các tầng tháp, 1958. - 13x18cm

Xây trên gò rùa phía Nam hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội. Xưa trên gò rùa, Chúa Trịnh dựng Đình Tả Vọng để làm nơi nghỉ mát trong mùa hè. Năm 1864, tên Bá Kim (tay sai Pháp), còn gọi là Thượng Kim, tin vào thuyết phong thuỷ nói gò rùa là đất "Vạn đại công khanh", để được hài cốt tiền nhân vào đó thì con cháu muôn đời nối nhau làm quan cao chức trọng. Bá Kim đã xin xây một ngọn tháp trên gò rùa để làm hậu chẩm cho chùa Báo Ân (chùa Liên Trì), định âm mưu hôm đào móng đem hài cốt cha mẹ chôn vào giữa gò. Việc bị lộ, hài cốt bị quật lên vứt đâu mất, chỉ còn trơ lại quách không. Song vì đã hứa xây tháp cho chùa y đành cho công việc tiếp tục. Tháp tuy được phép xây nhưng vẫn giữ nguyên tả vọng đình, chỉ đào móng xây cho chắc rồi xây các tâng tháp lên đỉnh cao thêm. Ngày nay gọi là Tháp Rùa, nhưng ở tháp vẫn còn 3 chữ "Tả Vọng đình" ẩn hiện.

VTT KHXH13036

 

249. Tháp Rùa / Lam Khê, Khánh Minh (sưu tầm, biên soạn) // Danh lam thắng cảnh Hà Nội. - H., 2010. - Tr.129-130

Tháp xây trên gò Rùa là nơi vua Lê Thánh Tông dựng Điếu Đài để câu cá. Đời Lê Trung Hưng, chúa Trịnh cho xây đình Tả Vọng trên gò nhưng đến thời Nguyễn không còn dấu tích. Theo truyền thuyết, tháp Rùa đánh dấu nơi thần Kim Quy hiện lên đòi lại gươm thần của vua Lê Lợi.

HVL3062

 

250. THU GIANG. Người cắm cờ Tổ quốc giữa lòng địch / Thu Giang // Người Hà Nội cuối tuần, 2009. - Số 181, tháng 5, tr.22-23

Trong tình hình nguy cấp, Pháp tạm chiếm Thủ đô năm 1948, hai chiến sĩ Nguyễn Trọng Quang và Nguyễn Sỹ Vân được giao nhiệm vụ cắm cờ Tổ quốc lên đỉnh Tháp Rùa. Vào khoảng 9 giờ tối 18/05/1948, hai chiến sĩ đã tiến hành nhiệm vụ được giao. Sau khi hy sinh anh dũng, con đường đi tìm gia đình và xin Bộ Lao động Thương binh và Xã hội công nhận liệt sĩ hết sức khó khăn. Cho đến sáng 10/04/2009, gia đình liệt sĩ Nguyễn Trọng Quang được trao tặng bằng "Tổ quốc ghi công". Tấm gương của hai chiến sĩ cắm cơ Tổ quốc giữa lòng Hà Nội sẽ mãi in sau trong tâm tưởng của người dân Thủ đô.

 

251. TRẦN CHIẾN. Truyền kỳ Hồ Gươm / Trần Chiến // Hà Nội mới, 1992. - 7 tháng 8

Truyền rằng: khi dấy binh ở Lam Sơn, Lê Lợi bắt được thanh gươm báu luôn giữ ở bên mình suốt mười năm kháng chiến chống quân Minh. Khi chiến thắng quân Minh, Lê Lợi rời về Thăng Long và lên ngôi là Lý Thái Tổ. Ngày kia, ngồi thuyền trên hồ Lục Thuỷ (hồ nước xanh), thấy rùa nổi lên, bèn rút gươm báu trỏ vào, thì rùa liền đớp lấy và lặn đi. Cho rằng Thần Rùa giúp gươm đánh giặc, giờ lấy lại, Thái Tổ đã đổi tên hồ Lục thuỷ thành Hồ Hoàn Kiếm.

 

252. TRẦN LÊ VĂN. Hồ Gươm đảo Ngọc - Một biểu tượng của văn hiến Thủ đô / Trần Lê Văn // Hà Nội - Những sắc màu văn hóa : H., 2009. - Tr.71-83

Tuỳ bút về hồ Hoàn Kiếm, đảo Ngọc, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, tháp Bút, đài Nghiên. Trong bài có viết về sự tích hồ Hoàn Kiếm và một số sự kiện lịch sử liên quan đến hồ.

HVL2525

 

253. TRẦN QUỐC VƯỢNG. Hồ Gươm / Trần Quốc Vượng // Hà Nội mới, 1972. - 26 tháng 11

Vài nét về lịch sử Hồ Gươm.

 

254. TUẤN LỆ. Tiếng oan của những người xây Tháp Rùa / Tuấn Lệ // Nông thôn ngày nay, 2013. - Số 154, 28 tháng 6, tr.15

Những tư liệu tin cậy nhất (ghi chép cổ nhất) về Tháp Rùa hầu hết bằng tiếng Pháp, những văn bản cổ của Việt Nam và chính sử về việc xây dựng Tháp Rùa đều không còn hoặc không có. Những ghi chép về Tháp Rùa trích từ tài liệu tiếng Pháp cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX và phần nghiên cứu của nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc đều cho thấy người xây Tháp Rùa là Nguyễn Hữu Kim (1832 - 1901), hiệu Chu Ái, người làng Cựu Lâu (nay thuộc khu vực phố Tràng Tiền và Hàng Khay) được hàm Bá Hộ. Ông không phải là tay sai của thực dân Pháp mà là một nhân sĩ Bắc thành tham gia tổ chức đám tang cho Hoàng Diệu, sau bị cách chức và bị quản thúc tại Hà Nội.

 

2.9. Di tích kiến trúc nghệ thuật Đình Tây Đằng

255. ANH DUY. Đình Tây Đằng tinh hoa văn hoá xứ Đoài / Anh Duy // Truyền hình Hà Nội, 2010. - Số 74, tháng 10, tr.68-69

Đình Tây Đằng được xây dựng vào thế kỉ 16 là một trong 6 ngôi đình cổ nhất Việt Nam. Đình thờ Tản Viên, Thánh Gióng và Thần Nông. Đình có kiến trúc theo kiểu chữ "Nhất" không có nhà tiền tế, hậu cung, chỉ có một toà nhà với cấu trúc ba gian hai chái quen thuộc và 48 cột lớn nhỏ bằng gỗ lim. Đình còn nổi tiếng với nghệ thuật chạm khắc.

 

256. Đình Tây Đằng // Hà Nội mới , 1981. - 24 tháng 5

Đình Tây Đằng thuộc xã Tây Đằng, huyện Ba Vì (nay thuộc tỉnh Hà Tây). Trước đó đình được xếp là một trong những di tích kiến trúc tiêu biểu của Hà Nội.

 

257. Đình Tây Đằng. - Website Tổng cục du lịch Việt Nam

Đình Tây Đằng thuộc thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì, Hà Nội. Đình được dựng vào khoảng đầu thế kỷ 16, nhưng hiện nay tại đình vẫn còn lại một số hoa văn từ thế kỷ 11 - 13, nên có giả thiết đình Tây Đằng có thể được xây dựng từ trước thế kỷ 16. Đình thờ Tản Viên, một trong Tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam và là một trong những nhân vật hàng đầu của thần thoại Việt – Mường cổ. Với những giá trị kiến trúc chạm khắc độc đáo, đình Tây Đằng được ví như một bảo tàng nghệ thuật dân gian của thế kỉ 16.

http://www.vietnamtourism.com/index.php/tourism/items/2800

 

258. Đình Tây Đằng // Địa chí văn hóa dân gian Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. - H., 1991. - Tr.238-240

Đình thuộc xã Tây Đằng, huyện Ba Vì, Hà Nội. Đình thờ thần Thành hoàng làng là đức thánh Tản Viên. Do đó, dân làng đã làm đình quay hướng về núi Tản để thờ vọng. Đình là một công trình kiến trúc thuộc vào loại cổ nhất trong các đình làng còn lại đến ngày nay. Đình có kích thước vừa phải, gồm 3 gian 2 chái, mỗi vì kèo có 6 hàng cột. Giá trị lớn nhất của công trình kiến trúc đình Tây Đằng là ở những tác phẩm chạm khắc trang trí các thành phần kiến trúc. Hầu như không có một mảng trống nào trong đình không được chạm khắc. Đề tài trang trí gồm nhiều thể loại: về tứ linh, Tiên Phật, hoa lá, các loại thú, sinh hoạt của con người...

HVL270 271

 

259. Đình Tây Đằng : Vì câu đầu ở gian bên trái đình. - 6x6

Đình nằm tại thôn Tây Đằng, xã Tây Đằng, huyện Ba Vì - niên đại xây dựng đình không rõ. Theo các nhà nghiên cứu, đình Tây Đằng có niên đại tương đương thời nhà Mạc, thế kỷ XVI. Đình thờ Đức Thánh Tản VIên tức Sơn Tinh. Về kiến trúc, tuy có một số lần tu sửa nhưng kiến trúc đình Tây Đằng rất thống nhất và là một kiến trúc gỗ hoàn chỉnh, nguyên vẹn từ xưa để lại. Đình gồm 3 gian chính, 2 gian phụ, xung quanh có hàng hiên bao quanh, xây theo lối trồng rường. Đình xưa có sàng gỗ, nay đã bị tháo gỡ, gian giữa dùng làm khám thờ, có các đồ thờ trang trí màu sắc lộng lẫy. Mái đình dốc. Đình Tây Đằng là di tích văn hoá có giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật.

VTT KHXH719-69

 

260. Đình Tây Đằng : Đầu bẩy phía sau gian bên trái đình. - 6x6

VTT KHXH718-69

 

261. Đình Tây Đằng : Ván nong gian bên trái phía sau đình, chạm hình người. - 6x6

VTT KHXH720-69

 

262. Đình Tây Đằng : Đòn tay chạm đầu rồng gian bên trái. - 6x6

VTT KHXH727-69

 

263. Đình Tây Đằng / Hoàng Khôi (giới thiệu, tuyển chọn) // 36 linh tích Thăng Long Hà Nội : H., 2010. - Tr.135-141.

Đình Tây Đằng (huyện Ba Vì, Hà Nội) là một trong những ngôi đình có niên đại sớm nhất nước ta với nghệ thuật thế kỷ XVI. Đền thờ thánh Tản Viên. Đặc điểm kiến trúc đình Tây Đằng.

HVL2817

 

264. Đình Tây Đằng / Ngô Thị Kim Doan // 250 đình chùa nổi tiếng Việt Nam : H., 2004. - Tr.322-324

Đình Tây Đằng thờ Tản Viên Sơn thánh, thuộc làng Tây Đằng, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Đình được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVI nhưng có quy mô hơi nhỏ. Các kiến trúc gỗ trong đình đều được chạm khắc hình rồng, phượng, hoa, lá... tinh xảo. Trong đó, chim phượng chạm ở đình xòe cánh hai bên như trăng lưỡi liềm, đầu to, cổ mập nhưng mỏ ngắn, đuôi ngắn - đây là loại hình chim phượng rất độc đáo và chỉ riêng có ở đình Tây Đằng. Điểm đặc biệt nhất của nghệ thuật chạm khắc trong đình là các cảnh sinh hoạt, vui chơi, lao động của bà con nhân dân khi xưa.

VL154

 

265. Đình Tây Đằng / Lưu Minh Trị (chủ biên), Đào Đình Bắc, Nguyễn Thị Dơn... // Hà Nội danh thắng và di tích. - H., 2011. - Tr.1128-1131

Đình Tây Đằng nằm ở trung tâm huyện lị Ba Vì, thuộc thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì, Hà Nội. Đây là công trình kiến trúc đình làng tiêu biểu, đặc trưng, có giá trị nghệ thuật cao, niên đại vào loại sớm nhất nước ta (thế kỷ XVI). Quy mô kiến trúc của đình hiện nay gồm: cổng ra vào, hồ bán nguyệt, nghi môn, tả hữu mạc và tòa Đại đình. Điều đặc biệt ở đình Tây Đằng nghệ thuật điêu khắc với các cấu kiện gỗ được chạm khắc độc đáo hình tứ linh, vân mây, hoa lá, rồng, phượng...

HVL3155

 

266. HÀ NGUYỄN. Đình Tây Đằng / Hà Nguyễn //Công trình kiến trúc Hà Nội. - H., 2010. - Tr.26-32

Trong các ngôi đình cổ ở Hà Nội, đình Tây Đằng (thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì) có kiến trúc nổi tiếng hơn cả. Đình được xây dựng khoảng thế kỷ XVI nhưng hiện vẫn còn lưu giữ được một số hoa văn thế kỷ XI - XIII. Đình có kiến trúc hình chữ Nhất, gồm 5 gian 4 mái. Vật liệu xây dựng đình ban đầu hoàn toàn là gỗ mít, trong quá trình tu bổ sau này có dùng thêm gỗ lim Trường Sơn. Vẻ đẹp của đình Tây Đằng.

HVL3399

 

267. NGỌC PHƯƠNG. Đình Tây Đằng - Tinh hoa kiến trúc người Việt cổ / Ngọc Phương // Báo điện tử Đài Truyền hình Việt Nam.

Nằm cách Hà Nội khoảng 50 km về phía Tây, đình Tây Đằng huyện Ba Vì là một trong số những ngôi đình cổ nhất Việt Nam, với gần 500 năm tuổi. Đình Tây Đằng sở hữu nhiều nét kiến trúc độc đáo, có một không hai. Kiến trúc của đình chỉ có một nếp nhà kiểu chữ nhất, kết cấu ba gian, hai dĩ, dàn hàng ngang bề thế, với bộ mái xòe rộng ra bốn phía và kéo dài xuống thấp, được xây dựng vào năm Canh Thân triều vua Nguyễn Tự Đức. Hàng năm, người dân tổ chức lễ hội truyền thống trong vòng bốn ngày, bắt đầu từ ngày 10/1 âm lịch.

http://vtv.vn/doi-song/dinh-tay-dang-tinh-hoa-kien-truc-nguoi-viet-co-20140930112425293.htm

 

268. NGUYỄN QUỐC ÂN. Đình làng Tây Đằng / Nguyễn Quốc Ân // Nét xưa Ba Vì. - H., 2013. - Tr.15

Đình làng Tây Đằng được xây dựng từ thế kỷ XVI. Năm 1964, đình được xếp hạng di tích cấp Quốc gia. Đình là di tích mang tính biểu trưng cho kiến trúc đình làng Việt Nam (cả kiến trúc và trang trí mỹ thuật cổ truyền). Đình Tây Đằng được các nhà khoa học lịch sử và văn hóa khẳng định như "bảo tàng" trong nghệ thuật điêu khắ - trang trí. Một số bức ảnh về mặt trước đình và điêu khắc gỗ trong đình.

HVL3373

 

269. Tản Viên Hựu thánh khuông quốc hiển ứng vương / Lý Tế Xuyên // Việt Điện u linh. - H., 1960. - Tr.55-56

Vương là Sơn Tinh (thần núi) cùng với Thủy Tinh (thần nước) kết bạn, ở ẩn trong động Gia Tĩnh, thuộc Phong Châu. Khi Hùng Vương kén rể, Sơn Tinh và Thủy Tinh cùng đến xin cưới nhưng Sơn Tinh mang lễ dẫn cưới đến trước nên được lấy Mỵ Nương về làm vợ. Thủy Tinh nổi giận, mỗi năm đến mùa thu lại dâng nước lên đánh núi Tản Viên.

HVV886

 

270. THÚY MƠ. Tây Đằng - ngôi đình cổ nhất Việt Nam / Thúy Mơ // Người Hà Nội, 2006. - Số Xuân Bính Tuất

Đình Tây Đằng (Ba Vì) được xây dựng vào thời nhà Mạc với kiến trúc độc đáo. Đây là ngôi đình còn giữ lại được nét cổ kính và nguyên trạng nhất nước ta. Đình thờ Tản Viên Sơn Thánh với nhiều điển tích sống động của con người cách đây 5 thế kỷ.

 

2.10. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách

271. 36 phong tục tập quán người Hà Nội / Vũ Ngọc Khánh: sưu tầm, biên soạn. - H. : Thanh Niên, 2010. - 179tr. ; 21cm. - (Thăng Long-Hà Nội ngàn năm văn hiến).

Phong tục đặt tên phố, phường Hà Nội, các tục lệ từ thờ cúng tổ tiên, làm ngày giỗ, thờ các thần linh... Một số hội đền Cổ Loa, chùa Láng, chùa Thầy, tục ẩm thực, trang phục Hà Nội.

HVL2880 2881

 

272. Chùa Thầy : Núi Phượng Hoàng gần Sài Sơn, 1958. - 6x6

Chùa thuộc địa phận xã Sài Sơn và Thuỵ Đức, Quốc Oai, Hà Nội. Chùa được xây vào đời Lý Nhân Tông (1072-1128), lúc đầu có tên là "Hương Giang am" hay "Bồ đà viên". Chùa còn có tên là Phật Tích, Thiên Phúc, chùa Cả hay chùa Sài Sơn. Chùa Cả (cũng gọi là Am Từ Công - tức Từ Đạo Hạnh) là một di tích văn hoá được xếp hạng. Chùa gắn với truyền thuyết Thiền sư Từ Đạo Hạnh (người Yên Lãng, Hà Nội) - chủ trì ở chùa, đã 2 lần hoá phép đầu thai Thái tử rồi làm vua là: Vua Lý Thần Tông (1128-1138) và vua Lê Thần Tông (1619-1643, 1645-1662). Gian giữa thờ tướng Từ Đạo Hạnh khi đã thành Phật đội mũ sen, bên trái là tượng Từ Đạo Hạnh bằng gỗ có khớp cử động, bên phải là tượng Lý Thần Tông. Chùa kiến trúc theo lối tam cấp, mỗi lớp một toà nhà kiểu cung đình. Kiến trúc chùa mang những đặc điểm kiến trúc nghệ thuật Lý Trần.

VTT KHXH1102

 

273. Chùa Thầy: Núi Sài Sơn (gò Thầy) và các đồi núi lân cận, 1958. - 6x6

VTT KHXH1103

 

274. Chùa Thầy: Quang cảnh làng Sài Sơn và Chùa Thầy nhìn từ trên núi xuống, 1927. - 18x24

VTT KHXH3197

 

275. Chùa Thầy: Bản đồ Chùa Thầy và các đình, đền lân cận. Chú thích bằng chữ Hán, 1936. - 13x18

VTT KHXH5123

 

276. Chùa Thầy : Toàn cảnh Chùa Thầy chụp từ trên núi xuống, 1958. - 13x18

VTT KHXH14910

 

277. Chùa Thầy: Mặt chính phía trước Chùa Thầy. Nhà tiền đường. ảnh cũ VTT KHXHB.755

 

278. Chùa Thầy: Toàn cảnh Chùa Thầy nhìn ở phía sau. ảnh BTMT. - 6x6

VTT KHXH75-70

 

279. Chùa Thầy: Hồ Long Trì, nhà múa rối nước (Thuỷ đình) ở trước chùa. ảnh BTMT. - 6x6

VTT KHXH76-70

 

280. Chùa Thầy: Thủy Đình và cảnh hồ nước trước Chùa Thầy, 1960. - 13x18

VTT KHXH16482

 

281. Chùa Thầy: Chùa Hạ: Ván chạm hình lân ở phía trên xà dọc của Chùa Hạ. ảnh BTMT. - 6x6

VTT KHXH83-70

 

282. Chùa Thầy : Chùa Hạ: Mặt bên trong ván nong chùa vị trí số 1. ảnh BTMT. - 6x6

VTT KHXH232-68

 

283. Chùa Thầy : Chùa Hạ: Con chồng ở vị trí số 8. - 6x6

VTT KHXH239-68

 

284. Chùa Thầy : Chùa Trung: Trạm gỗ hình lân và vách gỗ ngăn phía sau ban thờ sơn thần và thổ thần. ảnh BTMT. - 6x6

VTT KHXH248-68

 

285. Chùa Thầy : Bàn thờ bằng đá. Nhìn chiều cao của bàn thờ, 1925. - 13x18

VTT KHXH1875-1876

 

286. Chùa Thầy : Bàn thờ bằng đá. Hình rồng trạm nổi trên đá ở bệ chi tiết, 1927. - 18x24

VTT KHXH3200

 

287. Chùa Thầy : Chùa Thượng: Ba pho tượng trong lớp tường thứ 1: A Di Đà (giữa), Quan Âm (trái), Thế Chỉ (phải). Nhìn chếch bên trái. ảnh BTMT. - 6x6

VTT KHXH295-68

 

288. Chùa Thầy : Chùa Thượng: Khám thờ Từ Đạo Hạnh. Cao 1m35, rộng 1m73, dây 1m76 ở vị trí số 8. Mặt trước khám. ảnh BTMT. - 6x6

VTT KHXH289-69

 

289. Chùa Thầy : Nhà hậu: Phù điêu đá tạc hình mẹ bà Chúa Nành. Cao 0m69, ngang 0m42, dầy 0m09, niên đại Khánh Đức thứ tư (1652). Mặt chính. ảnh BTMT . - 6x6

VTT KHXH314-68

 

290. Chùa Thầy / Hoàng Khôi (giới thiệu - tuyển chọn) // 36 linh tích Thăng Long Hà Nội : H., 2010. - tr.165-171.

"Chùa Thầy" vừa là tên riêng chỉ trực tiếp ngôi chùa mang tên chữ là Thiên Phúc tự, vừa là tên chung chỉ quần thể di tích Phật giáo ở quanh núi Thầy mà tên chữ là Sài Sơn, gồm chùa Thiên Phúc ở bên hồ này, chùa Long Đẩu ở bên hồ kia, rồi chùa Đỉnh Sơn, am Phật Tích, chùa Bối Am ở trên núi, lại cả những di tích phi Phật giáo như đình, võ miếu, đền Thánh Văn Xương, hang Cắc Cớ, chợ Trời... Theo tấm bia "Bối Am tự bi ký" ở chân vách đá thì chùa Thầy được khởi dựng từ thời Đinh, các đời tiếp theo đều được tu bổ mở rộng. Chùa Thầy nay thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai (Hà Nội). Lịch sử phát triển của chùa, các lần trùng tu và một số di tích trong quần thể kiến trúc Chùa Thầy.

HVL2817

 

291. Chùa Thầy / Lạc Việt // Chùa Hà Nội : H., 2009. - Tr.154-161.

Chùa Thầy nằm ở chân núi Sài Sơn, làng Hoàng Xá, xã Phượng Cách, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây cũ, nay thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Chùa được xây dựng vào thời nhà Lý và là nơi tu hành của Thiền sư Từ Đạo Hạnh - vị sư thế hệ thứ 12 của dòng Thiền Tì ni đa lưu chi. Hội chính của chùa diễn ra từ mùng 5 đến mùng 7 tháng Ba âm lịch. Các di tích trong chùa: chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng, hệ thống tượng, hồ Long Chiểu, chợ Trời, hang Cắc Cớ, hang Thánh Hóa, chùa Cao, đền Thượng, hang Bụt Mọc.

HVL2522

 

292. Chùa Thầy / Ngô Thị Kim Doan // 250 đình chùa nổi tiếng Việt Nam : H., 2004. - Tr.348-350

Chùa Thầy thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội. Tương truyền chùa được xây vào thời Lý. Kiến trúc của chùa Cả - một trong những di tích thuộc quần thể di tích chùa Thầy và núi Sài Sơn.

VL154

 

293. ĐỖ NGUYỄN. Bát nháo chốn cửa thiền / Đỗ Nguyễn, Thuần Thư // An ninh Thủ đô, 2012. - Số 3461, 15 tháng 3, tr.11

"Gái chưa chồng trông hang Cắc Cớ, trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy", câu ca dao xưa đã phần nào cho thấy sức hấp dẫn của chùa Thầy với du khách thập phương. Nhưng thời gian gần đây, nhắc đến chùa Thầy là hãi hùng với cảnh chặt chém, cảnh "hành" khách ở nơi đây qua những vụ lừa đảo và những dịch vụ tự phát... làm mất đi cảnh bình yên vốn có ở chốn cửa thiền.

 

294. KHÁNH VĂN. Đất Phật - Chợ Trời cuộc hội ngộ chốn non Sài / Khánh Văn // Truyền hình Hà Nội, 2009. - Số 64, tháng11, tr.44, 45

Chùa Thầy là ngôi chùa ở chân núi Sài Sơn, nay thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội, cách trung tâm thủ đô 20km về phía Tây Nam. Chùa được xây dựng từ thời nhà Lý là nơi từng in dấu ấn của nhiều vị thiền sư như thiền sư Từ Đạo Hạnh, người làng Láng nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội. Phía trên chùa cao bằng phẳng được gọi là chợ Trời là nơi gặp gỡ giữa Tiên và Phật, tạo ra một khung cảnh kỳ diệu của thiên nhiên vùng đất này.

 

295. LÊ HỒNG QUANG. Tháng 3 trẩy hội chùa Thầy / Lê Hồng Quang // An ninh Thủ đô, 2015. - 22 tháng 4, tr.11

Chùa Thầy ở xã Sài Sơn (huyện Quốc Oai) và chùa Láng ở phố Chùa Láng đều tổ chức lễ kỵ thánh đúng ngày 7/3 âm lịch. Hai ngôi chùa này gắn liền với cuộc đời tu hành của Từ Đạo Hạnh - thế hệ thứ 12 của dòng tu Tì - ni - đa - lưu - chi, nhân dân trong vùng gọi ông là Thầy. Chùa Thầy được xây dựng đẹp nhất vào thời Lý và là một trong những ngôi chùa cổ đẹp nhất nhì miền Bắc. Nơi đây thường tổ chức múa rối nước và Từ Đạo Hạnh chính là ông tổ nghệ thuật múa rối nước.

 

296. LÊ QUÂN. Bể xương ở hang Cắc Cớ chùa Thầy / Lê Quân, Trần Đan // Thanh niên, 2010. - Số 324, 20 tháng 11, tr.14

Hang Cắc Cớ thuộc khu di tích chùa Thầy ở xã Sài Sơn (Quốc Oai, Hà Nội). Hang sâu thẳm, tối om, phải dùng đèn pin và đi dò dẫm từng bước mới có thể xuống được. Đi qua những bậc thang dựng đứng, lổn nhổn đá, có một bàn thờ nhỏ phía trước và có một lỗ vuông đầu người chui lọt. Trong bể có nhiều chiếc sọ người cùng xương cẳng tay, cẳng chân và vô số những mảnh xương, mảnh sọ vỡ đã ngả màu vàng, màu đen. Một số phỏng đoán về xuất xứ của những bộ xương, xa xưa nhất có thể là từ thế kỷ 2 trước công nguyên, gần nhất là của quân Cờ Đen cuối thế kỷ 19.

 

297. NGUYỄN TÂN. Chuyện Thiền sư "hoá Phật" ở ngôi chùa nghìn năm tuổi / Nguyễn Tân // Người Hà Nội cuối tuần, 2013. - Số 8, tháng 2, tr.14

Truyền thuyết về Thiền sư Từ Đạo Hạnh và nét đẹp của quần thể di tích chùa Thầy, núi Sài Sơn, hang Cắc Cớ... ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai (Hà Nội).

 

298. PHƯƠNG HOA. Vẻ đẹp non nước chùa Thầy / Phương Hoa // Làng Việt, 2013. - Số 33, tháng 4, tr.54+55

Chùa Thầy tọa lạc dưới chân núi Sài Sơn (còn gọi là núi Thầy, núi Phật Tích) thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội. Chùa có kiến trúc độc đáo và là nơi phong thủy hữu tình. Ngoài hệ thống tượng thờ khá phong phú và đặc sắc, chùa còn lưu giữ được một số lượng lớn các di vật có giá trị như: bệ tượng, nhang án, khám thờ, ngai thờ, đồ tế khí, khánh, chuông, bia đá, sắc phong.... Đặc biệt, trong chùa có pho tượng còn nguyên xương cốt tuổi thọ gần 1000 năm của Thiền sư Từ Đạo Hạnh có thể cử động được các khớp xương chân tay.

 

299. THIÊN TÚ. Phát huy giá trị di sản, xây dựng Thủ đô giàu đẹp, văn minh / Thiên Tú, Nguyễn Nga // Kinh tế & Đô thị, 2015. - Số 91, 24 tháng 4, tr.10

Chùa Thầy xây dựng thời Lý, nằm giữa vùng phong cảnh sơn kỳ thủy tú của xã Sài Sơn (huyện Quốc Oai, Hà Nội). Chùa Thầy là di tích kiến trúc nghệ thuật với lối kiến trúc độc đáo, lưu giữ nhiều cổ vật quý, đặc biệt là bệ đá hoa sen hình hộ. Chùa Tây Phương nằm trên núi Câu Lậu, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) có 2 tầng 8 mái, được coi là "bảo tàng tượng Phật Việt Nam". Ngày 23/4, tại 2 di tích nổi tiếng này đã diễn ra lễ đón nhận bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt.

 

300. TRẦN QUỐC VƯỢNG. Hội chùa Thầy và nghệ thuật múa rối nước truyền thống / Trần Quốc Vượng, Lê Văn Hảo, Dương Tất Từ // Mùa xuân và phong tục Việt Nam. - H., 1976. - Tr.237-245

Trẩy hội chùa Thầy tức là hành trình vào thắng cảnh Sài Sơn. Sài Sơn là tên núi đồng thời là tên xã. Xã Sài Sơn gồm 5 thôn thuộc huyện Quốc Oai, là nơi ẩn tàng truyền thuyết về Lữ Gia (người chống xâm lược Hán thế kỷ II trước Công nguyên) và là quê hương của dòng họ Phan Huy (dòng họ thi thư nổi tiếng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX). Trẩy hội chùa Thầy, du khách có cái thú trèo núi quanh co, vừa trèo vừa nghỉ để hai ngày mới đặt chân đến được chùa Thầy, chùa Cao, chùa Một Mái, hang Thánh Hóa, hang Bụt Mọc, hang Cắc Cớ, động Gió Lùa, chợ Trời, Ao Rồng, nhà rối... Hội chùa Thầy được tổ chức từ mùng 5 đến mùng 7 tháng Ba âm lịch hàng năm. Trong lễ hội, du khách sẽ được thưởng thức một môn nghệ thuật sân khấu dân gian độc đáo là múa rối nước. Theo tục lệ, bốn phường rối Thạch Xá, Yên Thôn (huyện Thạch Thất), Đông Bình (huyện Chương Mỹ), Phú Đa sẽ luân phiên nhau đến diễn phục vụ hội chùa.

HVV1851

 

301. VĂN SÁU. Ba di tích thời Thiền sư Từ Đạo Hạnh / Văn Sáu // Người Hà Nội, 2007. - Số 25, tháng 6, tr.2

Sự tích của thiền sư Từ Đạo Hạnh, lễ hội ở nơi thờ ông. Đó là hội chùa Thầy, hội chùa Xếp (Quốc Oai, Hà Tây) và hội chùa Láng ở Hà Nội.

 

2.11. Di tích kiến trúc nghệ thuật Đền Sóc

302. BÙI CHÍ BỀN. Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc / Bùi Chí Bền (chủ biên), Lê Thị Hoài Phương, Bùi Quang Thanh; Dịch: Nguyễn Kim Măng, Phạm Minh Đức, Trương Thị Thủy. - H. : Thế giới, 2010. - 710tr. ; 21cm

Giới thiệu về truyền thuyết Thánh Gióng, khu di tích đền Sóc và diễn trình lễ hội Gióng ở Sóc Sơn trong các ngày mùng 6, mùng 7, mùng 8 tháng Giêng hàng năm.

VV11.00195, 11.00196 (TVQG)

 

303. BÙI QUANG THANH. Thánh Gióng - Thiên tráng ca sức mạnh và nhân cách người Việt / Bùi Quang Thanh // Người Hà Nội, 2010. - Số 37, 10 tháng 9, tr.14

Ý nghĩa câu chuyện dân gian về người anh hùng Thánh Gióng vừa chống ngoại xâm vừa diệt thuỷ quái cứu dân lành.

 

304. Đ.X.TUẤN. Đền Sóc - Thánh Gióng trong góc nhìn tâm linh người Việt / Đ.X.Tuấn // Toàn cảnh - Sự kiện - Dư luận, 2009. - Số 232, tr.28-29

 

305. Đền Sóc / Lam Khê, Khánh Minh (sưu tầm, biên soạn) // Danh lam thắng cảnh Hà Nội. - H., 2010. - Tr.44-45Khu di tích lịch sử đền Sóc (xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) gồm nơi thờ Thánh Gióng cùng quần thể các đền chùa thờ Phật và các vị thần. Vào đời Hùng Vương thứ 6, sau khi đánh đuổi giặc Ân, Thánh Gióng đã phi ngựa đến chân núi Sóc Sơn, treo nón và giáp lên cây ồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời. Từ đó, hàng năm người dân tổ chức hội đền Sóc vào ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch.

HVL3062

 

306. ĐỨC XUYÊN. Khu du lịch văn hóa đền Sóc / Đức Xuyên // Du lịch Việt Nam, 2001. - Số tháng 7, tr.19

 

307. GIANG QUÂN. Lễ hội xuân Thăng long / Giang Quân // Văn hóa thông tin Hà Nội , 2002. - Số 2, tr.14+15

Giới thiệu nét đẹp người Thăng Long - Hà Nội. Đó là các lễ hội đầu năm với những ý nghĩa của các lễ hội: giỗ trận Đống Đa, Cổ Loa, đền Sóc.

 

308. HÀ BÌNH. Lưu giữ vốn văn hoá dân gian trong đời sống // Kinh tế & Đô thị, 2010. - Số 84, 12 tháng 5, tr 8

Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội là sự đầu tư nghiên cứu, bảo tồn văn hoá phi vật thể, tiêu biểu là lễ hội Cổ Loa (Đông Anh), lễ hội đền Sóc (Sóc Sơn), lễ hội vua đăng quang ( Hoàn Kiếm)... múa bài bông (Phú Xuyên), hát Dô (Quốc Oai). Bản thân các địa phương nơi vốn cổ được sinh ra và lớn lên cũng đang mải miết và hồ hởi với hành trình bảo tồn và phát huy đặc sản văn hoá quê hương mình.

 

309. HÀN TẤT NGẠN. Một số vấn đề lập dự án tượng đài Thánh Gióng trên đỉnh đá Chồng thuộc dãy núi Vệ Linh, huyện Vệ Linh, Sóc Sơn, Hà Nội / Hàn Tất Ngạn // Thăng Long - Hà Nội ngàn năm, 2002. - Số 7, tr.19+20

Về vị trí đặt tượng, chất liệu, độ cao của tượng đài Thánh Gióng tại đây sao cho làm phong phú, đa dạng khu di tích đền Sóc. Tượng làm bằng đồng đúc cao 36m, dài 25m, rộng 12m.

 

310. HỒ SĨ TÁ. Hình tượng lợn trong hội Gióng Sóc Sơn / Hồ Sĩ Tá // Thăng Long - Hà Nội ngàn năm, 2007. - Số 40, tr.10-11

 

311. Hội đền Sóc / Lưu Minh Trị (chủ biên), Vũ Khiêu, Lê Văn Lan... // Tìm trong di sản văn hóa Việt Nam, Thăng Long - Hà Nội. - H., 2002. - Tr.655-657

Đền Sóc ở chân núi Sóc (núi Vệ Linh) là đền thờ Thánh Gióng. Tại đây có lệ mở hội vào ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch gọi là Hội đền Sóc. Những lớp nghi lễ chính ở hội Sóc: mộc dục, rước hoa tre, bơi trải (bơi trải giấy), chém tướng.

HVL1749

 

312. Hội Thánh Gióng / Lê Trung Vũ (chủ biên), Hoàng Lê, Trần Văn Mỹ... // Lễ hội Thăng Long. - H., 1998. - Tr.187-200

Hội Thánh Gióng diễn ra tại 5 địa điểm: Hội Phù Gióng ở làng Sen Hồ, xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm vào ngày mùng 8 tháng Tư; Hội Gióng Phù Đổng ở xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm từ mùng 6 - 12 tháng Tư, chính hội mùng 9 tháng Tư; Hội Gióng Xuân Đỉnh ở xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm vào mùng 6 tháng Giêng; Hội Gióng Sóc Sơn ở xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn từ mùng 6 - 8 tháng Giêng, chính hội mùng 7 tháng Giêng; Hội Gióng Bộ Đầu ở xã Bộ Đầu, huyện Thường Tín vào ngày mùng 8 tháng Giêng. Hội Thánh Gióng thờ Thánh Gióng (tức Phù Đổng Thiên vương), một trong bốn vị thánh Tứ bất tử của Việt Nam. Các nghi lễ và hoạt động chính được tổ chức trong từng hội Thánh Gióng.

HVV2913

 

313. HUYỀN CƯƠNG. Tìm lại cội nguồn danh thắng đền Sóc góp phần làm rõ ý nghĩa những dự án hôm nay / Huyền Cương // Nghiên cứu Phật học, 1998. - Số 2, tr.55

 

314. Khu di tích đền Sóc / Lưu Minh Trị (chủ biên), Vũ Khiêu, Lê Văn Lan... //Tìm trong di sản văn hóa Việt Nam, Thăng Long - Hà Nội. - H., 2002. - Tr.207-208

Khu di tích thuộc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội; bao gồm nhiều công trình kiến trúc có liên quan mật thiết với nhau như: đền Thượng, đền Hạ, đền Mẫu, nhà bia, chùa Đại Bi... được bao bọc bởi dãy núi Sóc hùng vĩ (tương truyền là nơi ông Gióng cởi giáp sắt bay về trời). Lễ hội Sóc Sơn được diễn ra vào ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch, liên quan tới 3 tỉnh: Thái Nguyên, Hà Nội, Vĩnh Phúc, thu hút hàng vạn người tham gia.

HVL1749

 

315. Khu di tích đền Sóc - chùa Non Nước / Hà Nguyễn // Di tích lịch sử văn hóa Hà Nội. - H., 2010. - Tr.80-83 ; 21cm

Khu di tích đền Sóc nằm trên ngọn núi Sóc Sơn (còn có tên là núi Phù Mã hay núi Vệ Linh), thuộc địa phận xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Khu di tích đền Sóc gồm đền Thượng, đền Hạ và đền Mẫu, trong đó đền Thượng là trung tâm của khu di tích và là di tích quan trọng nhất. Trước cửa khu đền Thượng là dãy núi Mã, trong đó có ngọn núi Vây Rồng tương truyền là đỉnh núi nơi ông Gióng cởi giáp sắt vắt ở cây trầm hương rồi cưỡi ngựa bay về trời. Nằm trong quần thể khu di tích đền Sóc còn có chùa Non Nước, còn gọi là Sóc Thiên vương Thiền tự. Trụ trì đầu tiên của chùa là Thiền sư Ngô Chân Lưu, hậu duệ của Ngô Quyền. Lễ hội chính của cụm di tích đền Sóc - chùa Non Nước được tổ chức vào ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch.

HVL3406

 

316. LÊ TRUNG VŨ. Hội Gióng Sóc Sơn / Lê Trung Vũ, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Thanh Hương, Trần Văn My... // Lễ hội Thăng Long. - H., 2001. - Tr.566-568

Sóc Sơn là ngọn núi Thánh Gióng ngồi nghỉ, vắt áo để lại rồi bay lên trời, nay thuộc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Người núi Sóc nhớ ơn thánh, mở hội ba ngày từ mùng 6 đến mùng 8 tháng Giêng, trong đó ngày mùng 7 là chính hội. Ngày chính hội có hai nội dung đặc sắc là lễ dâng hoa tre và lễ chém tướng (ba tướng giặc: Thạch Linh và hai tùy tướng tả, hữu). Khu di tích thờ Thánh Gióng ở đây gồm 6 công trình: đền Thượng, chùa Đại Bi, đền Hạ, miếu Thánh Mẫu, nhà bia, khu hành lễ - tiếp khách, trong đó đền Thượng là nơi thờ Thánh Gióng và cử hành lễ hội.

HVV3508

 

317. NGUYỄN MINH NGỌC. Bộ tượng đền Sóc / Nguyễn Minh Ngọc, Hoàng Thu Hương // Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2004. - H., 2005. - Tr.474

Đền Sóc thuộc làng Phù Đổng, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Tại đền hiện nay có bộ tượng 7 ông: Thần tướng, Ngọc nữ, Tỳ Sa Môn Thiên vương, Thánh Dóng, Vũ Điền Quốc vương, Tiên đồng, Thần tướng. Bảy pho tượng được bố trí theo hình vòng cung gần như hàng ngang không chia thành lớp. Bộ tượng đền Sóc là bộ tượng rất đặc biệt với sự kết hợp của các bộ tượng đạo Giáo và đạo Phật cần quan tâm nghiên cứu.

 

318. NGUYỄN THANH BÌNH. Tấm bia 8 mặt tại di tích đền Sóc Sơn / Nguyễn Thanh Bình // Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2001. - H., 2002. - Tr.676-678

 

319. NGUYỄN THỊ THANH HÒA. Bảy pho tượng ở đền Sóc / Nguyễn Thị Thanh Hòa // Văn hóa nghệ thuật, 2008. - Số 283, tr.87-90

 

320. PHƯƠNG THUẬN. Hội Gióng / Phương Thuận // Quê hương, 2000. - Số 1, tr.15-17

 

321. THÁI UYÊN. Bề bộn tượng đài Thánh Gióng / Thái Uyên // Thanh niên, 2010. - Số 320, 16 tháng 11, tr.10

Tượng đại Thánh Gióng trên núi Chông thuộc địa phận xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn là một trong 39 công trình trọng điểm chào mừng 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, chỉ một tháng sau khi khánh thành đã rất bừa bộn, có hạng mục đã xuống cấp.

 

322. THU HÀ. Hội đền Sóc Sơn / Thu Hà // Người Hà Nội, 1986. - Số 21, 1 tháng 3. - (Văn vật Thủ đô)

Hội đền Sóc vẫn tế Thánh Gióng vào ngày 6 tháng 1 âm lịch, kỷ niệm ngày sinh của người anh hùng truyền thuyết của dân tộc (mồng bảy tháng Giêng). Hội Gióng ở Phù Đổng thì vào 8 và 9 tháng 4 âm lịch, là ngày chiến thắng giặc Ân.

 

323. THÚY HÀ. Đền Sóc - Tiềm năng du lịch mới / Thúy Hà // Hà Nội mới cuối tuần, 2001. - 28 tháng 4, tr.2

Đền Sóc thuộc làng Phù Mã, xã Vệ Linh, huyện Sóc Sơn, tương truyền là nơi Thánh Gióng bay về trời sau khi phá tan giặc Ân. Đền xây dựng từ thời Thục An Dương Vương. Trên đỉnh núi nay còn khối đá hình gốc cây tương truyền là nơi Thánh Gióng ngồi nghỉ. Đền Sóc là nơi có cảnh quan đẹp thu hút được nhiều khách du lịch. Ban quản lý đền có kế hoạch khả thi để đưa đền Sóc thành một điểm sáng của du lịch Thủ đô.

 

324. THƯƠNG HUẾ. Dựng tượng đài Thánh Gióng một nghĩa cử cao đẹp / Thương Huế // Lao động Thủ đô, 2010. - Số 59, 18 tháng 5, tr.9

Nhân sự kiện tượng đài Thánh Gióng chính thức rước lên ngự tại đỉnh cao nhất Núi Chồng thuộc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội ngày 19/5/2010. Cuộc nói chuyện của nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc. Ông cho rằng đó là ngày trùng lặp rất đẹp vào đúng ngày sinh nhật Bác được xã hội đề cao nhằm tôn vinh những anh hùng vì nước vì dân.

 

325. TRẦN BÁ CHÍ. Hội Dóng đền Sóc / Trần Bá Chí; Phan Huy Lê: giới thiệu. - H. : UBND huyện Sóc Sơn, 1986. - 71tr. ; 19cm

Đường về hội Dóng đền Sóc. Huyện Sóc Sơn trong lịch sử. Sự tích Thánh Gióng. Đền Sóc và hội Dóng.

HVV803

 

326. TRỌNG TÙNG. Mưu sinh trên đỉnh đá Chồng / Trọng Tùng // Kinh tế & Đô thị, 2012. - 27 tháng 6, tr.10

Tượng đài Thánh Gióng được khánh thành voà tháng 10 năm 2010 đặt trên đỉnh núi đá Chồng, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Tượng đài có trọng lượng 85 tấn đồng nguyên chất, chiều cao tới đỉnh là 11,07m; độ vươn xa là 16m. Đây là một trong những công trình trọng điểm kỷ niệm Đại lễ 1000 Thăng Long - Hà Nội. Kể từ khi được khánh thành, đỉnh đá Chồng trong khu di tích đền Sóc Sơn trở thành nơi mưu sinh cho bà con nông dân trong lúc nông nhàn.

327. VĂN HẬU. Hội Đền Sóc / Văn Hậu // Hà Nội mới, 1992. - 23 tháng 2. - (Thủ đô ta)

"Nhớ ngày mồng 6 tháng giêng, Trở về làng Cáo mà xem Hội làng".

 

328. VÂN HẠ. Ở nơi ông Gióng về trời / Vân Hạ // Hà Nội mới cuối tuần, 2014. - Số Xuân, tr.22

Cách trung tâm thành phố khoảng 30 km, đền Sóc là một địa chỉ du lịch tâm linh nổi tiếng. Nơi đây bắt đầu hình thành nhiều khu sinh thái, resort phục vụ ẩm thực và lưu trú... Ngoài ra Sóc Sơn còn được biết đến với lễ hội đền Gióng được tổ chức từ ngày 6 - 8 tháng Giêng.

2.12. Di tích kiến trúc nghệ thuật Chùa Tây Phương

329. CHU QUANG TRỨ. Chùa Tây Phương / Chu Quang Trứ. - H. : Mỹ thuật, 1998. - 184tr. ; 21cm

Giới thiệu về lịch sử và công trình kiến trúc độc đáo, hệ thống Phật điện của chùa Tây Phương từ thế kỷ XVI đến nay.

HVL687

 

330. Chùa Tây Phương // Di sản văn hóa dân gian Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. - H., 1991. - Tr.246-248

Chùa Tây Phương tên chữ là Sùng Phúc, thuộc xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Chùa được xây dựng trên núi Câu Lậu, một quả núi đất với độ cao vừa phải và có một địa thế đẹp. Tương truyền chùa có từ thế kỷ III nhưng di vật cổ nhất còn lại ở chùa là tấm bia làm năm Chính Hòa, cuối thể kỷ XVII. Chùa bố cục theo kiểu chữ "tam", gồm 3 tòa chạy song song với nhau, tòa giữa ngắn hơn hai tòa bên. Chùa có 62 pho tượng tròn và một số pho được làm vào các thời trước còn sót lại. Về lai lịch và sự tích liên quan đến một số tượng Phật trong chùa.

HVL 270 271

 

331. Chùa Tây Phương : Bản vẽ mặt bằng chùa Tây Phương, 1961. - 13x18

Tên chữ là Sùng Tự, nằm trên núi Tây Phương, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, ngoại thành Hà Nội. Chùa Tây Phương được xây dựng từ đời Cao Biền. Vào khoảng niên hiệu Chính Hoà (1680 - 1705) Tây Vương Trịnh Tạc đi qua thấy cảnh chùa trang nghiêm, bèn truyền cho sửa sang lại chùa và xây Tam Quan, chùa cũ bị phá. Ba toà chùa Tây Phương hiện còn lại ngày nay, cùng với kiến trúc và các tượng thờ được xây lại trên nền chùa cũ vào khoảng từ năm 1788 đến 1789 dưới triều đại Tây Sơn. Hiện nay chùa Tây Phương còn chuông đồng đúc năm Bính Thìn 1796 (Cảnh Thịnh thứ 4) và bài minh do Phan Huy ích soạn khắc vào chuông năm Mậu Ngọ 1789 (Cảnh Thịnh thứ 6). Về kiến trúc: Chùa xây 3 toà xếp theo hình chữ Tam. Về nghệ thuật: trang trí rồng, phượng, hoa lá... bố cục cân đối, gọn gàng. Chùa có nhiều tượng lớn nhỏ (toà chùa 1 có 120 pho, toà chùa 2 có 20 pho, toà chùa 3 có 30 pho).

VTT KHXH14920

 

332. Chùa Tây Phương : Cổng chùa Tây Phương (xây năm 1958). Nhìn mặt chính "Tây Phương tu", 1958. - 6x6

VTT KHXH1109

 

333. Chùa Tây Phương : Toàn cảnh chùa Tây Phương. Trước toà thứ nhất. (Có nhiều ảnh khác), 1958. - 6x6

VTT KHXH1110

 

334. Chùa Tây Phương : Toà thứ nhất. Toàn cảnh mặt ngoài phía trước toà (Còn nhiểu ảnh khác), 1953. - 6x6

VTT KHXH542

 

335. Chùa Tây Phương : Toà thứ 2. Toàn cảnh phía bên trái (Có nhiều ảnh khác). ảnh BTMT. - 6x6

VTT KHXH05-69

 

336. Chùa Tây Phương : Toà thứ 2: Bệ tượng Thích ca thành đạo. Toàn mặt trước bệ. ảnh BTMT. - 6x6

VTT KHXH47-69

 

337. Chùa Tây Phương : Toà thứ 2: Bộ tượng Thích Ca thành đạo, trang trí rồng hổ phù ở chân bệ. ảnh BTMT. - 6x6

VTT KHXH48-69

 

338. Chùa Tây Phương : Toà thứ ba: Toàn cảnh phía mặt ngoài, mặt sau toà, 1958. - 6x6

VTT KHXH1113

 

339. Chùa Tây Phương : Toà thứ 3: Vị tam bảo phía trái kê ở toà. Nhìn mặt trước và chi tiết đầu. ảnh BTMT. - 6x6

VTT KHXH41-69, 42-69, 43-69

 

340. Chùa Tây Phương : Pho Cửu Long chùa Tây Phương. Do Công Văn Trung vẽ, 1954. - 18x24

VTT KHXH11725

 

341. Chùa Tây Phương : Bản vẽ toàn thể khu chùa. Trong cuốn "Rleves des monuments..." của L. Bezacier plan XXIII Lts.04, 1971. - 13x18

VTT KHXH16687

 

342. Chùa Tây Phương / Ngô Thị Kim Doan // 250 đình chùa nổi tiếng Việt Nam : H., 2004. - Tr.324-326

Chùa Tây Phương được xây dựng lần đầu vào đời Cao Biền (865 - 875), đến niên hiệu Chính Hòa (1680 - 1705), khi Tây vương Trịnh Tạc đi qua đây đã cho sửa lại chùa và xây thêm tam quan. Sau lần trùng tu này chùa bị phá và đến năm 1788 - 1789, dưới triều Tây Sơn, chùa được xây dựng lại trên nền chùa cũ. Chùa được xây theo hình chữ tam với ba toà, mỗi toà có 2 tầng, 8 mái và 8 đầu đao cong vút. Nội thất của tất cả các tòa nhà đều được chiếu sáng vì thềm của toà nọ cách thềm của tòa kia tới 1,6m. Chùa hiện còn lưu giữ được 62 pho tượng Phật và thuộc địa phận núi Tây Phương, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, Hà Nội.

VL154

 

343. Chùa Thầy và chùa Tây Phương đón nhận bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt // Văn hóa, 2015. - Số49, 24 tháng 4, tr.2

Ngày 23/4, UBND huyện Quốc Oai tổ chức lễ đón nhận Bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt dành cho chùa Thầy và chùa Tây Phương. Chùa Thầy tên chữ là Thiên Phúc tự, là nơi lưu dấu ấn tu hành của vị cao tăng nổi tiếng thời Lý - Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Chùa Tây Phương nằm trên núi Câu Lậu (thôn Yên Xá, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, Hà Nội) là địa danh đánh dấu sự chuyển biến về hệ tư tưởng Phật - Lão - Nho.

 

344. Điểm sáng dưới chân chùa Tây Phương // Hà Nội mới , 1989. - 17 tháng 10

Chùa Tây Phương, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, Hà Nội (nay thuộc tỉnh Hà Tây).

 

345. LẠC VIỆT. Chùa Tây Phương / Lạc Việt // Chùa Hà Nội : H., 2009. - Tr.149-154

Chùa Tây Phương (Sùng Phúc tự) nằm trên ngọn núi Tây Phương cao 50m ở thôn Yên, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Từ chân núi, qua 239 bậc lát đá ong thì đến đỉnh núi và cổng chùa. Chùa Tây Phương là nơi tập trung những kiệt tác hiếm có của nghệ thuật điêu khắc tôn giáo bao gồm chạm trổ, phù điêu và tạc tượng. Trong chùa có 72 pho tượng tạc bằng gỗ mít sơn son thếp vàng. Năm 1962, chùa Tây Phương được Bộ Văn hoá xếp hạng di tích lịch sử. Từ năm 1995 - 1997, chùa Tây Phương được trùng tu lại và hoàn chỉnh như hiện nay.

HVL2522

 

346. NGUYỄN CAO LUYỆN. Một công trình kiến trúc cổ Việt Nam ánh sáng của không gian kiến trúc chùa Tây Phương / Nguyễn Cao Luyện // Người Hà Nội, 1986. - 1 tháng 3, số 21

Chùa Tây Phương ở núi Câu Lâu, xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất, một công trình kiến trúc cổ Việt Nam. Ánh sáng của không gian của kiến trúc chùa, đường từ dưới chân đồi đi lên cổng chùa, quang cảnh và vị trí các ngôi chùa, tượng chùa.

 

347. NGUYỄN CAO LUYỆN. Tượng chùa Tây Phương : một công trình kiến trúc cổ Việt Nam / Nguyễn Cao Luyện // Người Hà Nội, 1986. - 15 tháng 3, số 22

Các tượng chùa Tây Phương đều sơn son thếp vàng, tượng bằng gỗ và là gỗ mít với lớp lớp nhiều nước sơn mài phủ kiến. Trắng, vàng, son, nâu hay thếp vàng đều là những nước sơn màu, sơn với mài xong lại mài thêm cả nước sơn màu ngoài cùng.

 

348. NGUYỄN DUY CÁCH. Di sản lớn ở làng nhỏ Yên Thôn / Nguyễn Duy Cách // Hà Nội ngày nay, 2013. - Số 82, 5 tháng 12, tr.14

Làng Yên (tên cổ là Yên Thôn) ở xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) là một làng nhỏ có khoảng 2500 nhân khẩu với gần 700 hộ gia đình nhưng lại có 17 di tích, trong đó có chùa Tây Phương. Giới thiệu kiến trúc và các pho tượng ở chùa Tây Phưong; công tác quản lý di sản văn hoá của làng Yên.

 

349. PHẠM QUỐC QUÂN. Chùa Tây Phương / Phạm Quốc Quân // Thế giới di sản, 2014. - Số 3, tháng 3, tr.25,26

Chùa Tây Phương tên chữ là Sùng Phúc Tự, nằm trên núi Tây Phương, thuộc thôn Yên, xã Thanh Xá, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Có nhiều ý kiến khác nhau về thời gian xây dựng chùa, tuy nhiên theo ghi chép của sử thánh văn chùa Tây Phương được xây vào năm 1632 dưới thời vua Lê Thần Tông. Chùa có 3 đơn nguyên, bố cục hình chữ Tam: Bái đường - chính điện và hậu cung. Kiến trúc chùa theo lối chồng diêm, tường không vôi vữa mà điểm xuyết những ô cửa tròn. Đặc biệt tại chùa Tây Phương có bộ tượng 72 vị La Hán, bộ tượng 16 vị tổ mang giá trị văn hoá tín ngưỡng cao.

 

350. TÂN AN. Tây Phương cổ tự / Tân An // Hà Nội ngàn năm, 2010. - Số 84, tháng 9, tr.18,19

Chùa toạ lạc trên quả núi đất Câu Lậu, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất (Hà Nội)

 

351. THU OANH. Chùa Tây Phương / Thu Oanh // Truyền hình Hà Nội, 2010. - Số 76, tháng 12, tr.50-51

Chùa có tên chữ là Sùng Phúc Tự nằm trên đỉnh đồi Câu Lậu, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất. Với giá trị độc đáo về mặt nghệ thuật kiến trúc và Phật học, chùa được Bộ Văn hoá công nhận là Di tích lịch sử văn hoá quốc gia từ năm 1962. Chùa có kiến trúc độc đáo và là nơi tập trung nhiều pho tượng Phật được coi là kiệt tác hiếm có của nghệ thuật điêu khắc. Lễ hội chùa tổ chức từ 6-10 tháng Ba âm lịch.

 

352. TRẦN LÂM BIỀN. Hội chùa Tây Phương / Trần Lâm Biền // Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam. - H., 2013. - Tr.458-464

Chùa Tây Phương phong cảnh Thanh Tao, nằm trên đỉnh hòn núi đất Câu Lậu ở xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Lễ hội chính của chùa diễn ra vào ngày mùng 6 tháng Ba âm lịch nhưng trước đó một tháng (mùng 6 tháng Hai âm lịch) có lễ sám hối cũng được coi là một lễ trọng của chùa. Hội chùa Tây Phương đơn giản như hội chùa thông thường ở những nơi khác, không sôi nổi như hội chùa Thầy, chùa Keo, chùa Lim... nhưng hội chùa vẫn đông vui, tấp nập. Không khí chuẩn bị trước ngày diễn ra và những hoạt động chính trong hội chùa.

HVL3456

 

353. TƯ VĂN. Chuồn chuồn tre cất cánh / Tư Văn // Hà Nội mới, 2012. - 25 tháng 3, tr.5

Lễ hội chùa Tây Phương được tổ chức vào ngày 6 tháng 3 âm lịch hàng năm. Mỗi mùa lễ hội là tại các gian hàng lưu niệm lại bày bán những chú chuồn chuồn tre đủ loại màu sắc. Dân làng Yên, xã Thạch Xá, Thạch Thất, Hà Nội luôn tự hào khi quê hương có ngôi chùa Tây Phương nổi tiếng và những món chè lam, đặc sản, nay lại có thêm món hàng thủ công chuồn chuồn tre độc đáo làm quà tặng du khách.

 

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KINH NGHIỆM BẢO TỒN DI TÍCH

354. ANH QUÝ. Hợp tác thực hiện Dự án bảo tồn di sản văn hoá Hà Nội / Anh Quý // Kinh tế & Đô thị, 2005. - 30 tháng 11, Số 137, tr.2

Dự án có tên "Hà Nội 2010 di sản và đặc trưng văn hoá" được Liên minh châu Âu tài trợ thực hiện trong 2 năm 2004 - 2005.

 

355. ÁNH VƯƠNG. Văn hoá Hà Nội cần phải toả sáng / Ánh Vương // Hà Nội ngàn năm, 2006. - Số 30, tr.4+5

Trao đổi với Tiến sĩ Đặng Văn Bài - Cục trưởng Cục di sản văn hóa, Bộ Văn hóa - Thông tin về vấn đề di sản văn hóa Hà Nội.</